Friday, October 15, 2021

KHẨN THIẾT CẦU XIN “MỖI GIA ĐÌNH, MỘT THƯƠNG PHẾ BINH”

Kính thưa quý vị, 
Trong cơn đại dịch Covid-19, cộng với vi khuẩn “Delta variant” đang hoành hành tại Việt Nam liên tục từ nửa năm qua, khiến cho những người lành lặn cơ thể còn phải chịu đựng và đối phó với bao nỗi khó khăn, thiếu thốn, huống chi đến những người tàn tật, bị mất tay, cụt chân hay mù cả đôi mắt. Nhất là thành phần Thương Phế Binh VNCH, những cựu quân nhân bất hạnh đã trở thành phế nhân trong cuôc chiến bảo vệ tự do, dân chủ cùng sinh mạng của bao người dân ở miền Nam VN trước Tháng Tư, 1975. Khi đại dịch ụp xuống quê nhà, lệnh “ai ở đâu, ở đó” do nhà cầm quyền ban ra đã khiến cho TPB không còn cơ hội để sống, để lê la đi bán từng tấm vé số mưu sinh hoặc đi xin ăn ở các lề đường.

Cho đến nay, nhiều TPB đã và đang chết đói!

Chúng tôi đã vận động và được ân nhân, ông bà Nguyễn Võ Long, người sáng lập “Phong Trào Việt Hưng” đáp ứng và đang đích thân gởi tiền về quê nhà giúp cho khoảng hơn 2000 TPB/VNCH. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà VN đang mở cửa hoạt động trở lại.

Tuy nhiên con số 2000 TPB/VNCH chỉ là một phần rất nhỏ so với nhu cầu hiện tại, và với danh sách là hơn 17 ngàn TPB mà cựu trung tá Hạnh Nhơn đã thành lập khi bà còn sống. Chính vì thế mà sau khi biết được các đồng đội trong số may mắn 2000 người nhận được tiền trợ giúp, thì nhiều TPB đã viết thư sang cầu cứu. Vì thế chúng tôi xin mạo muội tái phát động chương trình “MỖI GIA ĐÌNH, MỘT THƯƠNG PHẾ BINH”, để khẩn thiết cầu xin quý vị đồng hương ở khắp nơi trên thế giới. Những người may mắn có hoàn cảnh, xin quý vị nhín ra một chút đỉnh để gởi về giúp đỡ các TPB/VNCH trong giai đoạn sinh tử hiện nay.

VIỆC LÀM RẤT GIẢN DỊ:

Chúng tôi sẽ cung cấp Tên, Tuổi, Địa Chỉ, Điện Thoại cùng Số Quân và Đơn Vị của một hay nhiều TPB mà quý vị muốn giúp đỡ. Quý vị gởi trực tiếp về cho họ qua các dịch vụ gởi tiền. Chúng tôi chỉ xin đề nghị $100 dollars cho một TPB (+$2 dollars lệ phí chuyển tiền). Các cơ sở chuyển ngân sẽ phải cung cấp giấy hồi báo với chữ ký của người nhận cho quý vị. Và dĩ nhiên chúng ta cũng có thể điện thoại để liên lạc hỏi thăm cho chính xác nếu muốn.

Nếu quý vị hảo tâm, muốn tham gia và giúp đỡ TPB/VNCH đang thiếu thốn và chờ mong, xin email về cho chúng tôi tại địa chỉ: namlocnguyen@yahoo.com / XIN ĐỪNG GỞI TIỀN CHO CHÚNG TÔI!

Mùa Lễ Tạ Ơn sắp đến, hãy giúp đỡ TPB/VNCH trong giai đoạn cấp thiết này để tri ân những người đã hy sinh cho quê hương đất nước và cho chúng ta được sống.

Xin ơn trên phù hộ cho toàn thể quý vị.

Nam Lộc
October, 2021

Sunday, October 10, 2021

Một thời “ốp xẹc” - Lê-văn-Sùng, khóa 65F -

Giấc mộng trở thành phi công đã ăn sâu vào tim óc tôi lúc nào không biết, có lẽ Phượng của Toàn-Phong đã quyến rũ tôi khi tôi còn mài đũng quần ở trường trung học Sa-Đéc. Một cậu bé nhà quê, sau khi đọc cuốn “Đời Phi-công” lại mơ trở thành phi-công, mà phải lái máy bay khu-trục mới hách. Nên khi vừa giật được mãnh bằng Tú-tài, tôi cùng thằng bạn nối khố tình nguyện vào Không-Quân ngay. Nó cũng mê được lái máy bay như tôi vậy.

Thằng bạn tôi vào khám sức khỏe một lèo, trót lọt hết, vào khóa 65D. Đi du học Hoa-Kỳ về lái máy bay vận-tải. Giấc mộng phi- công của nó đã thành hiện thực thật trọn vẹn. Cuộc đời bay bổng của nó thăng hoa tột đỉnh, trưởng biệt đội AC119. Đó là SVSQ Nguyễn-thành-Ấm, có nickname là “Ấm sứt vòi”. Còn tôi, cao 1m75, nặng 68kg, quá lý tưởng cho tiêu chuẩn một phi công nên tôi vào phòng cân đo rất hãnh diện. Tôi thấy tội nghiệp cho một vài người bạn khám chung toán, trước khi vào cân phải ăn vội cả ổ bánh mì, nốc một bụng nước cho đủ 50kg. Có đứa không đủ chiều cao, lấy cục nhựa đường gắn lên đỉnh đầu, phủ mái tóc dầy lên cho đủ 1m60. Tiếp theo vào đến khám mắt, đọc đến hàng 9A thì tôi không còn phân biệt được chữ O hay chữ C, chữ E hay chữ F…nên bị trung-sĩ Giỏi loại ngay.

Từ đó tôi tái khám đi tái khám lại mãi cũng không vào Không-Quân được. Cuối cùng tôi phải chạy “pít –tông” từ Bộ Tư Lệnh mới được vào khoá 65F Quan sát viên. Nhận được giấy gia nhập Quan sát viên, không là hoa-tiêu như các bạn khác, tôi cầm giấy lại hỏi một vị Thiếu-Úy, mặc đồ bay rất đẹp trai, mang bảng tên “KIỂM”:
-Thưa Thiếu úy, tôi được học Quan sát viên là sao hả Thiếu úy?
Ông đáp ngay:
-Đó là “ốp xẹc”!!?, “ốp xẹc” thì nham nhở lắm, ráng bay nhiều giờ để được chuyển sang hoa tiêu.

Bốn mươi năm qua tôi vẫn nhớ nguyên văn lời Thiếu úy Kiểm. Từ đó tôi rất dị ứng với từ “ốp xẹc”. Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây, Thiếu úy Kiểm mà tôi gặp làn đầu ấy, là anh của Phạm hữu Ân khoá 65E. Sau này, tôi nghe lời ông khi ra trường, năm 1967, ráng bay thật nhiều giờ, liều mạng kiếm được rất nhiều huy chương, nhưng mãi đến năm 1973, trên 4000 giờ bay, phải vượt qua mặt rất nhiều đàn anh để đi học khoá hoa tiêu đặc biệt. Cơ duyên run rủi, đúng Thiếu úy Klểm ngày xưa, nay là Thiếu Tá Huấn luyện viên, và thằnh lính mới “ốp xẹc” ngày xưa, nay là Đại úy Quan sát viên, dày dạn lửa đạn chiến trường, về Trung tâm huấn luyện Không quân Nha-trang làm học trò ông , khi mãn khoá được Tướng Chỉ huy trưởng Trung tâm gắn cánh bay thủ-khoa, chắc cũng làm ông hãnh-diện.

Trong cuộc đời làm Quan sát viên, biết bao kỷ niệm, vinh-quang cũng có mà đắng cay cũng nhiều. Mới ra trường được hơn một năm, tôi được chọn làm Chiến sĩ xuất sắc của Quân Đội (năm 1968). Bốn năm sau, cũng với chỉ số QSV, tôi được chọn làm chiến sĩ xuất sắc của Quân chủng. Đổi lại biết bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, cuối cùng cái giá phải trả là gần 8 năm lao động khổ sai ở miền thượng du Bắc Việt, cộng thêm 5 năm tù vượt biên, mà trong đó hơn ba năm rưởi bị nhốt trong phòng kỷ-luật, chân bị cùm, ăn uống , vệ sinh tại chỗ, mỗi tuần được tắm 5 phút. Tôi có ước nguyện khi về hưu, tôi sẽ viết về những ngày tháng khó quên này. Trong khuôn khổ hạn hẹp của quyển Đặc san, tôi xin ghi lại vài trang kỷ niệm đã ăn sâu vào ký ức tôi.


Kỷ niệm thứ nhất.
Tháng hai năm 1968, tôi được cắt đi biệt phái Kiên Giang (tỉnh Rạch Giá), với Trung úy Thành (63D). Đặc biệt, phi hành đoàn biệt phái Rạch Giá không ở trong cư xá Tiểu khu như những nơi khác, mà lại ở nhà Bác Tám. Bác trai là một đại điền chủ ngày xưa, lúc bấy giờ Bác làm việc trong tòa nhà Quốc Hội ở Sài-Gòn, Bác gái rất tử tế. Nhà hai Bác là một lâu đài đồ sộ. Tôi không biết phi đoàn 116 gắn bó với gia-đình Bác từ lúc nào, mà Bác thương chúng tôi như con, Ăn, ở nhà Bác, chẳng bao giờ Bác lấy tiền đứa nào. Bác nấu cơm tháng cho hàng nhiều chục người đến ăn. Không biết vì cơm Bác nấu ngon, hay vì ba cô tiểu thơ con gái Bác đẹp, xinh. Cô chị lớn goá chồng còn rất trẻ, hai cô em là học sinh trường trung học Nguyễn trung Trực. Cô nào cũng xinh như mộng, cư xử với chúng tôi như anh em trong nhà .

Anh Thành có vợ con ở cư xá Không đoàn, nên bay xong, chiều anh lại bay về Cần Thơ, lấy lý do phi cơ đậu lại phi trường Rạch Giá ban đêm không an toàn. Mấy ngày đầu, chiều nào tôi cũng theo anh Thành về Cần Thơ, đêm đêm chạy ra hầm trú ẩn tránh đạn pháo, vì lúc ấy VC pháo kích phi trường dữ dội lắm. Bác Tám gái bảo tôi:

-Thằng Thành, (vì bác coi chúng tôi như con cái trong nhà, nên bác thường gọi chúng tôi bằng thằng như con của bác vậy) có vợ, nó về Cần Thơ lo cho vợ con nó là phải, con về làm chi cho bị pháo kích, ngủ lại đây đi, nhà rộng quá mà ít người, mấy em con nó sợ. Bác bảo người nhà dọn một phòng trên lầu cho tôi ngủ, cạnh hai phòng của hai cô tiểu thư nhà bác. Chiều chiều, Thành bay về Cần Thơ, tôi ở lại một mình cũng buồn, nên hai cô, khi thì rủ tôi dùng xe Jeep chở hai cô ra phố, hoặc chở hai cô ra phi trường Rạch Sỏi tập bắn súng. Thú thật lúc đó tôi chưa có người yêu, nên có hơi xao-xuyến với cô em, vì cô em có khuôn mặt và đôi mắt rất giống một nàng thơ của tôi, thuở tôi mới bắt đầu biết mộng mơ.

Ngủ lại Rạch Giá chỉ được ba đêm, tôi lại nhớ bạn bè ở phi đoàn, nhất là nhớ “mạt chược”không sau chịu được, nên mỗi chiều tôi lại về Cần Thơ. Sau lần biệt phái ấy, trong phi đoàn nhiều người nghĩ tôi đã phải lòng cô em, vì tháng sau tôi lại xin biệt phái Rạch Giá nữa. Họ đâu biết, tôi xin đi biệt phái Rạch Giá để được ăn cơm “free”, vì lương tháng vừa lãnh đã nướng sạch sau một đêm kéo phé cùng Nguyễn văn Hưởng 65B và Nguyễn lãng Uy 65E.

Lần đi biệt phái nầy, chúng tôi phải bay liên tục vì có nhiều cuộc hành quân lớn. Cao minh Rạng 63D biệt phái cùng tôi, cứ chưởi thề mãi, vì vừa đáp xuống là có lịnh đổ xăng bay tiếp. Nhiều phi hành đoàn trực thăng thuộc phi đoàn 211 đáp xuống Rạch Giá đổ quân. Chúng tôi cũng đưa những anh em 211 nầy vào nhà bác Tám ăn cơm, Không quân thì bác vẫn không nhận tiền.

Trong ấy có vài anh em vừa gặp cô em là bị hớp hồn ngay, trong đó có anh Th…Anh Th. thú thật với tôi:
-Moa vừa gặp cô ấy là bị cú-đờ-phút (coup de foudre) ngay đó toa! Phải cô ấy là bồ của toa không???
Đáng tội nghiệp nhất là Trần quốc Trung (65D) cứ theo tôi hỏi mãi:
-Này Sùng! Mày có ý định cưới cô em không? Nếu chưa có ý định cưới hỏi gì cả thì nhường tao nhé. Tao sẽ giới thiệu em gái tao cho mày. Em gái tao đẹp lắm.
Tôi nói thật với Trung:
-Tao chỉ mới có cảm tình thôi. Phi đoàn tao cũng có nhiều tên đang rắp ranh bắn sẻ đấy. Nếu mầy thương dữ dội, thì tấn công mạnh đi, còn ngượng gì nữa. Tao rút lui.
Trung mừng quá, tấn công tới tấp. Khoảng một tháng sau, gặp tôi ở câu lạc bộ Sư đoàn Trung đưa ngón tay cái lên cười nói với tôi:
-Xong rồi, cám ơn mày nhá. Tao sẽ xin cưới nàng!
Tôi nói:
-Chúc mừng cho mầy.
Nhưng hỡi ơi! Hạnh phúc chưa được mấy ngày, thì Trung bị bắn rớt ở Sóc Trăng trong một chuyến bay đêm. Trung chết ngay trong phòng lái. Tội nghiệp thay một thằng bạn đẹp trai, vui tánh, dễ thương của khóa 65D2.

ARVN FAC at the Dong Tam airfield in Dec 1968

Kỷ niệm thứ hai

Vùng kinh Hộ Phòng (tỉnh Bạc Liêu), chạy từ quốc lộ 4 ra biển, có mật khu Lò Than rất khó bình định. Khi tỉnh Bạc Liêu mở cuộc hành quân thì địch rút chạy về Cà Mau. Lúc tỉnh Cà Mau mở hành quân thì địch lại rút về Bạc Liêu. Lúc ấy vào khoảng năm 1969, Sư đoàn 21 bộ binh mở cuộc hành quân lớn, phối hợp cùng hai Tiểu Khu Bạc Liêu và Cà Mau. Quyết tâm của Quân đoàn 4 là phải bình định mật khu Lò Than, vì tin tình báo cho biết, trong ấy có một trạm y-tế, có hàng trăm thương binh Việt Cộng dang điều trị và có một trại giam tù binh, có giam nhiều tù binh Mỹ.
Lịnh xuất phát bắt đầu từ sáng sớm, chúng tôi nhiều phi hành đoàn đáp tại Bạc Liêu yểm trợ cuộc hành quân. Trưa hôm ấy tôi đang bay hướng dẫn quân bạn vào lục soát, chúng tôi phải làm nhiều cái low-pass. Tôi phát hiện nhiều dãy chòi trong rừng đước. Đước là loại cây thân thẳng, cao, dùng làm than hoặc làm cột, kèo, cừ rất tốt. Đước mọc nhiều trên vùng đất mới phù sa gần bờ biển. Muốn làm chòi trong rừng đước, địch quân đốn nhiều cây đước cột chặt vào những thân cây đước khác làm sàn nhà, xong rồi lấy lá dừa nước che lên bên trên làm mái, phi cơ khó mà phát hiện nếu không liều mạng bay rà xuống thật thấp như chúng tôi. Sau khi phát hiện những dãy chòi cất lưng chừng trên những cây đước như những tổ chim, những tràng súng liên thanh bắn vào phi cơ chúng tôi. Thầy Lê phước Khương (hoa tiêu) hét lên:
– Combat (nickname của tôi) tụi nó bắn trúng tàu rồi..Thôi mình lên cao.
Tôi chấm tọa độ những dãy chòi ấy, báo cho Bộ chỉ huy hành quân, xong tôi gọi pháo binh bắn tới tấp và hướng dẫn cánh quân bạn gần nhất tiến vào lục soát, địch chỉ bắn lẻ tẻ. Một lúc sau, quân bạn báo cáo đây là trại giam, những người bị chúng bắt, hai chân còn bị cùm. Mỗi chòi giam 4,5 người, hầu hết đã bị VC đâm hoặc chém.chết trước khi quân ta tiến vào. Đơn vị lớn của VC đã rút lui, chỉ có bọn du kích canh gác trại giam mà thôi. Khi quân ta tiến vào, chúng cũng đã chém.vè(trốn chạy) hết. Tôi nói:
-Các bạn tiếp tục lục soát, tôi sẽ báo bộ chỉ huy xin chỉ thị cho các bạn.
Một cánh quân khác gọi tôi và báo:
-Chúng tôi vừa giải thoát được hai quân nhân Việt Nam và một người Mỹ. Một trong hai người VN cho biết anh ta là Thiếu úy Không quân.
Tôi vội hỏi :
_Anh ấy còn khỏe không, có nói chuyện được không? Cho tôi gặp anh ấy đầu máy.
Quân bạn đáp:
-Anh ấy yếu lắm, nhưng vẫn nói được. Đây có anh ta đầu máy đó.
Tôi hỏi:
-Anh tên gì? thuộc đơn vị nào?
Anh ta đáp giọng yếu ớt, run run:
-Tôi tên Mai văn Lê, Phi đoàn 217 Cần Thơ.
Tôi mừng quá và trong đầu tôi hiện ra hình ảnh người đàn anh khóa 65D, đã có thời lo những bữa ăn cho chúng tôi ở quân trường.
Tôi hỏi tiếp:
Tôi biết anh. Anh thuộc khóa nào? hồi ở quân trường anh làm cán bộ gì?
Anh Lê đáp:
-Tôi khóa 65D, hồi ở quân trường tôi làm cán bộ phạn xá.
Tôi bảo quân bạn:
-Đúng, đúng anh ấy là sỉ quan Không quân đấy. Các anh hảy đưa những người sống sót ra nơi an toàn tôi cho trực thăng đến bốc.
Sau nầy tôi được biết, Mai văn Lê sau khi rời trung tâm an dưỡng, anh được chuyển về thặng số Bộ tư lệnh KQ. Anh không còn bay nữa. Không biết giờ nầy anh ở đâu? Tôi không có dịp nói cho anh biết, người bay hướng dẩn quân bạn may mắn cứu thoát anh ngày hôm đó là tôi, một quan sát viên đàn em của anh. Còn người Mỹ được giải thoát ngày hôm đó là một sĩ quan Lực lượng đặc biệt. Khi về Mỹ ông ta có viết lại một hồi ký thật dày, ông đã gởi tặng một cuốn, với lời tri ân tha thiết đến những người lính hành quân giải thoát ông, qua Đại Tá Nguyễn ngọc Điệp, vị Tư lịnh phó Sư đoàn 21 Bộ binh, người chỉ huy cuộc hành quân ngày hôm ấy.

Kỷ niệm thứ ba

Thuở ấy mặt trận Bình-Long càng ngày càng khốc liệt. Quân ta, dưới sự chỉ huy anh dũng của Chuẩn Tướng Lê văn Hưng, nhất định tử thủ An Lộc, thà chết không đầu hàng.
Cộng Sản Bắc Việt dồn hết lực lượng, chia thành nhiều mũi tấn công, chúng hạ quyết tâm bằng mọi giá, phải dứt điểm An Lộc.

Sau một thời gian dài, chúng đã gây cho quân ta tổn thất nặng nề. Bao nhiêu tử sĩ hy sinh không được chôn cất, bao nhiêu thương binh không được đưa về Quân y viện chăm sóc. Bị thương dù nặng hay nhẹ, cũng chỉ được y tá và các chiến hữu chăm sóc tại chỗ, với phương tiện cứu thương eo hẹp dần. Nguy khốn cho quân ta nhất là vũ khí, đạn dược cạn kiệt không được tiếp tế hữu hiệu, lương thực đã đến mức báo động từ lâu. Phải tử thủ trong tình trạng tuyệt vọng như thế, mỗi phút trôi qua là một phút mỏi mòn chờ cứu viện. Bộ Tổng tham mưu đã quyết định cứu An Lộc giải tỏa Bình Long, nên đã tung nhiều đơn vị thiện chiến vào chiến trường :Sư đoàn 5 bộ binh, Biệt động quân, Liên đoàn 81 Biệt cách nhảy dù và tăng cường thêm hai Sư đoàn lừng danh của vùng Bốn chiến thuật, đó là Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 Bộ binh.
Phi đoàn 116 của chúng tôi ở Cần Thơ, cũng được tăng cường cho phi đoàn 112 Biên Hòa ba phi hành đoàn, để hằng ngày thi hành một số phi vụ do phi đòan 112 sắp xếp, hầu hết là được giao cho những phi vụ bay cho mặt trận Bình Long, thỉnh thoảng được một ngày ”xả hơi”là yểm trợ cho các Tiểu khu khác như: Long Khánh, Long An, Phước Long…, thuộc vùng ba chiến thuật.
Phi đoàn 116 của chúng tôi xưa nay có truyền thống đi biệt phái xa thường cắt những hoa tiêu nhiều kinh nghiệm, và những quan sát viên dày dạn chiến trường, không bao giờ đưa những cánh chim non vào các vùng đầy phòng không 37 ly và SA7 ấy. Tôi còn nhớ rõ, ngày 15 tháng 5 năm 1972, tôi đi Biên Hòa biệt phái cùng Thiếu tá Trần công Thành (64B) và hai phi hành đoàn khác tôi không nhớ rõ tên. Nhưng tôi chắc chắn một điều không có ai là Trung úy, chỉ có Đại úy và Thiếu tá. Đến Biên Hòa, chúng tôi vào trình diện Trưởng phòng hành quân của phi đoàn 112 là Thiếu tá Lê tấn Phương. Anh là bạn thân của tôi, lúc trước anh từ miền Trung đổi về Phi đoàn 116, anh và tôi thường đi biệt phái chung với nhau như cặp bài trùng. Vừa gặp chúng tôi, Phương cười ngất hỏi:
-Phi đoàn 116 sao lại đưa toàn cù lũ chĩa lên tăng phái vậy ?
Thành đáp:
– Biệt phái cho các anh, chúng tôi phải tuyển toàn gà chiến đó.
Phương nói:
-Ưu tiên cho mấy ông. Ngày mai ai muốn bay cho Tiểu khu nào tùy ý chọn.
Tôi đáp:
-Chúng tôi biệt phái lên đây tùy mấy “sếp” cắt đâu bay đó thôi.
Phương cười nói:
-Vậy là Bình Long mút chỉ đó!

Lúc ấy tôi không biết anh nói đùa hay nói thật. Đến hết kỳ biệt phái, tôi mới biết là anh không đùa. Chúng tôi được đưa đến một “trailer”không máy lạnh, kiếng cửa sổ đã mất. Cũng may tôi có mang theo mùng, không thì tối hôm đó muỗi Biên Hòa tha hồ hút máu dân Cần Thơ mới lên.
Chiều hôm ấy trời thật ảm đạm, chưa kịp thả xuống mấy cái quán ở khu gia binh ăn cơm, thì trời đổ mưa lớn. Đến nhá nhem tối trời mới bắt đầu tạnh dần. Ngồi nhìn mưa rơi rã rít ngoài trời, tôi chợt nhớ đến vợ tôi, nàng đang mang thai đứa con đầu lòng sắp đến ngày sanh. Tự nhiên tôi có cảm giác rờn rợn, lo sợ vẩn vơ. Vì trong Không Quân, những đứa thường kề cận cái chết như chúng tôi, thường tin có điềm xui cho những thằng mới lấy vợ, hoặc vợ sắp sanh mà phải đi biệt phái xa. Mai nầy tôi lại phải bay vào nơi dầu sôi lửa bỏng nầy, tự nhiên tôi thấy “lạnh cẳng”. Nếu có ai đó mà biết được tâm trạng lo sợ của tôi lúc ấy mà gọi tôi bằng “nickname S. combat”, chắc tôi quê lắm.

Đang ngồi mơ màng tư lự, chợt trước cửa “trailer” có một người bất ngờ xuất hiện. Người nầy mặc áo mưa, có mũ trùm đầu cẩn thận. Tôi hơi giật mình vì sự xuất hiện đột ngột của anh ta, anh ấy đi vào đề ngay:
-Mấy anh ở Cần Thơ lên, có anh nào thích xoa mạt chược không?
Câu hỏi đúng ngay chỗ ngứa của tôi. Tôi mừng quá đáp ngay:
– Tôi, nhưng xoa ở đâu?
Anh ấy đáp:
-Chơi ở nhà tôi, bên kia, tôi là Thiếu tá Minh.
Anh đưa tay chỉ ngôi nhà có bức tường lớn, xa xa, tôi thấy mờ mờ trong mưa.
Tôi đáp ;
-Tôi chưa ăn cơm, để tôi và bạn tôi đi ăn cơm về rồi sẽ qua.
Anh Minh giục:
-Qua nhà tôi ăn cơm, mời bạn anh luôn. Anh ấy biết chơi mạt chược không?
Thành vì không chơi mạt chược nên từ chối và bảo tôi đi chơi đi, anh sẽ xuống tiệm ăn cơm và về ngủ sớm mai đi bay. Tôi đi với anh Minh và hỏi thăm còn những ai xoa với tôi nữa, anh đáp:
– Có Trung tá Nhã và Thiếu tá Vũ đang sẳn sàng, lúc nào cũng có ba anh em chúng tôi, còn mấy tay khác tối về Saigon hết. Trên nầy khó kiếm đủ bốn tay lắm.

Đến nhà anh, mới bước chân vào phòng khách, tôi đã thấy ngay bàn mạt chược nằm chình ình ra đó. (Tôi thường ngầm cám ơn các chú Ba Tàu đã ban cho tôi trò chơi lý thú nầy, ngoài dáng ngồi chơi thật sang trọng, thoải mái, còn là nghề tay trái của tôi để kiếm cơm, sau những lần bị 52 lá bài Tây quật cho cháy túi). Anh Minh hối người nhà dọn cơm cho tôi ăn, và hối hả quay điện thoại gọi hai anh Nhã và Vũ đến. Anh nói luôn cho tôi biết, anh Nhã là Tham mưu phó Hành Quân Sư đoàn 3 KQ, và anh Vũ là Phi đoàn trưởng phi đoàn phản lực F5. Từ ấy, cứ mỗi chiều tối tôi đi bay về, là anh Minh gọi tôi qua nhà anh hoặc sang nhà anh Vũ ăn cơm, và xoa hai hội, đến mấy giờ cùng phải nghỉ. Chúng tôi giao ước với nhau giới hạn chỉ hai hội thôi, vì ngày mai ai cũng phải đi bay.

Trở lại việc biệt phái Biên Hoà, đúng như lời anh Phương trưởng phòng hành quân phi đoàn 112 đã nói, chúng tôi “được” bay cho Bình Long mút chỉ. Ngày nào cũng cất cánh trực chỉ Lai Khê, nhận lịnh và bay thẳng lên An Lộc. Khi thì hướng dẫn khu trục oanh tạc mục tiêu, khi thì điều chỉnh pháo binh, khi phải đi tìm một vài cánh quân thất lạc không biết vị trí. Bay ở vùng nầy khó nhận định vị trí chính xác lắm, toàn là rừng cao su, mà địch và ta có khi ở thế cài răng lược, đánh lạng quạng vào quân bạn là “ủ tờ” như chơi! Mặt khác, vị trí quân bạn lại rất khó tìm. Họ chỉ trải panô màu cho phi cơ nhận điểm đứng của họ, tuyệt đối họ không bao giờ thả khói màu như những chiến trường khác, vì ở đây, khói màu sẽ là mục tiêu cho Việt cộng pháo kích, mà VC mỗi lần pháo là hàng trăm hàng ngàn quả chứ không ít!. Riêng về phi cơ quan sát của chúng tôi thì VC ít dám bắn, vì chúng sợ lộ mục tiêu. Nhưng khi phi tuần khu trục đến rồi, một trái khói được chúng tôi bắn xuống đánh dấu mục tiêu nơi oanh kích thì phòng không bắn lên như mưa. Những viên đạn 37 ly nổ bụp bụp trên không xung quanh chúng tôi, thấy nhột nhột lành lạnh xương sống.

Ở vùng Bốn, chúng tôi khi bay hành quân cao độ lý tưởng là từ 1500 đến 2000 bộ, những khi cần khám phá những hầm hố của VC, chúng tôi thường xuống thấp hơn, có khi phải nhử cho VC bắn, cho phi cơ lao xuống thật thấp, làm low-pass sát ngọn cây dọc theo sông rạch, hoặc bay sát mặt nước theo những con kinh thẳng tắp, quan sát viên ngồi phiá sau, bỏ helmet ra, thò hai tay đã cầm sẵn hai quả lựu đạn khói màu ra hai bên cửa sổ, khi nghe tiếng đạn VC bắn nổ chát chúa sát bên tai, là thả lựu đạn khói xong, chúng tôi cho phi cơ vút thẳng lên cao. Sau đó những thằng VC bắn phi cơ ấy sẽ được đáp lễ bằng những bom dập pháo vùi. Tôi học lối nhử VC nầy từ chú Tư Cầu (nickname của Nguyễn văn Thành khóa 63D), khi đi biệt phái cùng chú hồi Tết Mậu Thân ở Rạch Giá. Sau đó tôi truyền nghề lại cho Ngô minh Trải, Dương hồng Vệ, Trần hữu An, Liêu văn Điều…những hoa tiêu trẻ, vì những hoa tiêu trẻ mới nghe lời xúi bậy của mấy lão “ốp xẹc” già, chứ hoa tiêu già đâu có dại mà đùa với tử thần như thế. Bây giờ ngồi viết lại những dòng nầy, tôi mới nghĩ, tại sao lúc ấy mình lại hăng say đến độ ngu ngốc đến thế. Có lẽ vì tôi tin tưởng ở số mạng. Tôi có người cậu ruột, là một nghệ sĩ tài hoa lại là một nhà tướng số nổi tiếng,( Nguyễn thành Ấm biết ông ấy) . Ông cho tôi biết:
-Đời mầy nhiều gian truân nhưng thọ lắm.
Quả đúng như thế, đến nay đã trên 6 bó, qua khỏi tuổi hưởng dương rồi. Vì trong không quân ta dễ “chết non “ lắm, Tướng Tư Lệnh nói:
-Phi công chúng mình tuổi đời thì ít mà tuổi thọ thì dài.

Vì hằng ngày đùa với cái chết, mà vẫn còn sống tới tuổi nầy coi như đã thọ lắm rồi.
Trở lại bài học nhữ cho VC bắn, phi đoàn chúng tôi có Đại úy Nguyễn tấn Trào -chỉ huy phó phi đoàn đã bị bắn chết ở Cà Mau, Trần văn Sơn (65D) và Trần hoa Văn (1/66 QS) đã bị bắn chết ở Vĩnh Bình. Thê thảm nhất là một đàn em thân yêu của tôi: Liêu văn Điều. Anh đã hy sinh ở Sầm Giang (tỉnh Định Tường-Mỹ Tho), cùng với Nguyễn ngọc Đạm (3/65 QS). Hai anh đã bay sát ngọn cây ở sông Sầm Giang để nhữ VC, không may cho hai anh, gặp phải thằng bắn đại liên “chó ngáp phải ruồi”, nó bắn rớt hai anh đúng vào ngày ký Hiệp Định Paris. Bọn VC ở đây chúng áp dụng phương châm:
-Cồng cộc (khu trục) lên thẳng (trực thăng) còn tha,
Bà Già (quan sát) giết hết lột da, chặt đầu.
Chúng chặt đầu hai anh, dùng hai cây tre cắm đầu hai anh ngoài cửa song, dưới treo tấm bảng “Hai tên giặc lái đã đền tội” (đúng là dã man hơn thời Trung cổ). Không biết xác anh Đạm có bị lột da không? Còn xác anh Điều được gia đình, nhờ người môi giới nạp cho chúng một số tiền chuộc rất lớn, chúng mới để gia đình mang về chôn cất, còn cái đầu chúng vẫn không trả lại.
Trở lại việc đi bay ở An Lộc, làm sao dám bay thấp như ở vùng Bốn, bay cao bốn, năm ngàn bộ, có khi phòng không bắn rát quá, phải lên cao hơn. Có một hôm, tôi được bay đánh tại thị trấn An Lộc, gần nơi tử thủ của Tướng Hưng. Ông liên lạc trực tiếp với tôi để chỉ điểm những mục tiêu phải đánh. Tôi báo cho ông biết, chúng tôi là phi đoàn 116 ở Cần Thơ lên. Ông rất mừng khi gặp lại chúng tôi trên máy, vì lúc ông làm Trung đoàn Trưởng Trung đoàn 31 bộ binh đóng tại Vị Thanh, ông rất thương chúng tôi. Phi hành đoàn nào biệt phái cho ông cũng được ông đãi ăn cơm cùng với ông ở Câu lạc bộ trung đoàn. Ngoài ra mỗi em còn được một gói thuốc lá bỏ túi nữa. Hôm đó ông yêu cầu được đánh rất gần hầm chỉ huy của ông. Việt cộng đã bám sát bên ông rồi! Tôi trấn an ông:
-Alpha yên chí, rất nhiều đơn vị thiện chiến của mình đã đến gần Alpha, họ sắp bắt tay được với Alpha rồi đó.

Ông rất vui, ông hứa ngày gặp lại ông sẽ có quà cho chúng tôi. Quả nhiên sau nầy, ông vẫn còn nhớ lời hứa hôm đó, tặng chúng tôi mỗi đứa một sợi dây đeo súng làm kỷ niệm.
Lần biệt phái nầy để lại tôi một kỷ niệm vô cùng đau buồn. Một hôm, chúng tôi đã thi hành xong phi vụ ở phía Nam An Lộc, tôi đã dẫn đánh bốn phi tuần, Thành đã bắn hết 6 quả rocket khói đánh dấu mục tiêu rồi, phi cơ chúng tôi phải bay thẳng về Cần Thơ kiểm kỳ, đổi máy bay khác. Trên đường Thành bay về, phải chi tôi điềm nhiên tận hưởng cái khoan khoái của người quan sát viên: tha hồ ngủ hoặc nghe nhạc trên đường hoa tiêu bay về, dưỡng sức để tối nay còn xuống nhà Quan Bịnh (63D), xoa mạt chược thì đã yên rồi, chuyện đau buồn này sẽ không xảy ra. Không hiểu sao tôi lại không ngủ, tôi lại thò đầu ra ngoài cửa sổ, nhìn xuống Quốc lộ 13, đếm thử xem, có bao nhiêu chiếc xe của ta và của dân thường đã bị địch bắn cháy, nằm dài theo tử lộ kinh hoàng ấy. Trong nghề quan sát, thường chúng tôi hay nhìn sau đuôi phi cơ, vì địch mỗi khi thấy phi cơ chúng thường nấp xuống, chờ phi cơ bay qua khỏi rồi mới di chuyển hoặc chạy, hoặc bò. Quả nhiên tôi nhìn ra phía sau, bổng phát hiện mấy chiếc thiết giáp, chạy chui xuống gầm cầu đường rầy xe lửa. Tôi vội bảo Thành:
-Anh Thành buông cần lái cho tôi vòng lại đây một chút!
Thành hỏi:
-Gì đó?
Tôi bay vòng lại và đáp:
-Có mấy chiếc thiết vận xa.
Thành nói:
-Kế bên Tân Khai, chắc là quân bạn.
Tôi đáp:
-Quân bạn sao nó thấy mình lại chui xuống gầm cầu. Để tôi liên lạc hỏi thử xem.
Tôi liên lạc được Trung đoàn đóng tại Tân Khai, xin tần số cánh quân đầu phía nam của họ. Đó là một Tiểu đoàn của Sư đoàn 21 bộ binh. Tôi xin gặp Alpha của tiểu đoàn, tôi đọc tọa độ chiến xa xuất hiện để anh xác định.
Anh ta thét lên:
-Việt cộng đó, tụi nó đến gần tôi vậy sao? Anh làm ơn gọi phi tuần đánh giúp tôi, không thì tối nay chúng nó sẽ tấn công bọn tôi ngay. Con cái tôi bị ghẻ lở nhiều quá rồi (ý nói lính của anh đã bị thương nhiều rồi), mấy hôm nay chưa tản (tức tản thương) được.
(Tản thường, lúc ấy trực thăng tản thương rất khó đáp, vừa đáp là VC pháo kích liên hồi, hoặc vừa sà xuống thấp là phòng không bắn như mưa, trực thăng rớt trên ấy nhiều lắm). Tôi nghe xót xa trong lòng và quyết định diệt mấy chiếc tăng nầy mới được.
Tôi gọi ngay Bộ chỉ huy báo cáo tình hình và xin phi tuần đến đánh. Thành nói:
-Mình gần hết xăng rồi anh, mà còn phải về Cần Thơ nữa!
Tôi nói:
-Không sao, mình đánh vài phi tuần rồi về Mộc Hóa đáp đổ xăng cũng được.(bay lên trời hoặc vào vùng hành quân quyền đánh hay không là do quan sát viên quyết định và chịu hoàn toàn trách nhiệm ).

Tôi gọi Trung tâm hành quân không trợ 3 (ASOC3) xin phi tuần ngay, trong khi chờ kết quả, tôi gọi pháo binh ở Tân Khai, chấm tọa độ mục tiêu bắn liền. Tôi chấm thêm ba tọa độ, gọi quân bạn cho biết, nếu đêm có bị tấn công hoặc có gì nghi ngờ thì bắn và ba hỏa tập ấy. Tôi mới bắn được vài chục quả 105 ly, đã nghe trên tần số UHF có tiếng khu trục gọi đúng danh hiệu tôi, cùng lúc đó ASOC3 cũng gọi cho tôi biết tôi có hai phi tuần. Phi tuần thứ nhất, danh hiệu Phoenix 51, số phi vụ…..đang có trên tầng số, và phi tuần thứ hai, danh hiệu Phoenix 61, số phi vụ…. còn 10 phút nữa sẽ cất cánh, tôi đáp:
-Cám ơn bạn tôi đã nghe Phoenix 51 đang gọi tôi. Có lẽ nghe rõ cuộc liên lạc giữa tôi và ASOC 3, nên khu trục gọi tôi ngay:
-Sơn Ca 23, bạn cho tôi biết tọa độ mục tiêu.
Tôi đáp nhanh:
-Phiá Nam An Lộc khoảng 10 km. Tôi đang đợi bạn trên mục tiêu. Xin cho tôi biết số phi vụ và trang bị cùa bạn.
-Chúng tôi có hai phi cơ A1, số phi vụ…,trang bị gồm 16 bom nổ 500 và đại bác 20mm, 10 phút nữa sẽ đến bạn.
-Xin cho biết thời gian bạn có thể ở trên vùng ?
-Khoảng 30 phút.
Thì ra phi tuần nầy được điều động đi đánh chỗ khác, với F.A.C Mỹ nhưng vì F.A.C gần hết xăng không đánh được, đang tìm mục tiêu giải tỏa bom đạn trước khi về đáp, thời may gặp tôi đang xin, nên bay đến ngay thật khoái vô cùng. A1 mang bom nhiều lại đánh rất chính xác. Tôi bắt đầu làm việc theo phương thức:
-Mục tiêu của bạn là mấy chiếc tăng tôi vừa phát hiện. Quân bạn gần nhất ở về hướng Bắc khoảng 1km, mỗi chiếc mang 8 trái, các anh đánh dùm tôi 4 pass, được không?
-O.K. Bốn pass.
Tôi nghĩ thầm, phi tuần nầy chịu chơi, đánh mỗi lần hai quả, A1 ở lâu trên vùng mà không nhột. Có nhưng phi tuần xin đánh hai pass thôi, có khi “hot” quá, xin salvo một lần là hết bom. Tôi nói tiếp:
-Trục đánh từ Tây sang Đông, break trái, về hướng Bắc có quân bạn, khẩn cấp anh có thể nhảy dù xuống đó.
-Số 1, tôi nghe rõ, số 2 có nghe được FAC không?
-2 chỉ nghe được 1 mà không nghe được FAC.(forward air control).
-Sơn Ca 23 anh có nghe được số 2 của tôi không?
-Tôi nghe số 2 rõ 5/5.
-Số 2 không nghe được anh, nhưng không sao,tôi sẽ rờ-leo.( Đây cũng là một điểm son của khu trục Việt Nam, nếu hướng dẫn phi tuần Mỹ, hoặc đồng-minh, một trong những chiếc của phi tuần không nghe được F.A.C. thì họ không bao giờ chịu đánh).
Sau khi số 1 nói xong, anh lặp lại cho số 2 những gì tôi đã thuyết cho anh, có lẽ anh đã dùng bút mỡ viết lên kiếng, nên không sai một chi tiết nào. Tôi nói tiếp:
-Tôi sẽ hold phía Nam, nơi nầy ghi nhận có nhiều phòng không, thường bắn rớt trực thăng tản thương.
Số 1 đáp:
-Nghe rõ, và anh lặp lại cho số 2, số 2 cũng đáp nghe rõ.
Tôi nói tiếp:
-Gió Đông Nam từ 10 đến 15, elevation khoảng 40 feet, phi trường giải tỏa gần nhất là Lai Khê, hiện giờ tôi đang bắn pháo binh.
-Roger!
Xong số 1 lặp lại cho số 2.
Tôi nhìn bên cánh phải thấy xa xa có 2 chiếc A1 đang bay tới.
Tôi nói:
-Phoenix 51, bạn gần tới mục tiêu rồi đó. Tôi đang ở hướng 11 giờ, thấp của bạn. Để tôi bắn một tràng pháo binh nữa cho bạn thấy mục tiêu rồi tôi cho chấm dứt tác xạ., mục tiêu đang ở hướng 12 giờ của bạn.
Tôi gọi pháo binh:
-Yếu tố cũ 20 quả, chấm dứt tác xạ,trả lời.
Pháo binh trả lời:
-Yếu tố cũ 20 quả chấm dứt tác xạ. Hết.
Chắc đã nhìn thấy những quả pháo đang nổ, số 1 nói:
-Tôi thấy mục tiêu rồi, có phải chỗ pháo binh bắn nổ ở đường sắt đó không?
Tôi đáp:
-Đúng rồi. Chỗ đó là cây cầu bắc qua suối cạn, có mấy chiếc tăng vừa trốn dưới đó. Bạn đánh ngay chỗ pháo binh nổ đi, có cần tôi bắn trái khói không?
-Tôi thấy rõ, không cần rocket khói.
Tôi nói tiếp:
-Quân bạn nằm trên quốc lộ 13, hướng Bắc mục tiêu 1km, bạn có cần quân bạn thả khói màu không?
Anh đáp ngay:
-Không cần, số 2 chuẩn bị vào đội hình oanh kích, số 1 “in-hot”.
Số 1 đã vào mục tiêu tấn công. Tôi hồi hộp theo dõi, thấy anh bổ nhào xuống quá thấp, thấp nữa… thấp nữa. Tôi thấy hai quả bom rơi. Tôi báo:
-Hai quả đã rơi. Mấy giây sau, “Ầm!”một phát, hai quả trúng ngay mục tiêu. Tôi khoái quá la lớn:
– Trúng rồi! số 2 vào đánh ngay bom số 1.
Số 2 sau khi nghe số 1 lập lại lời tôi “ số 2 đánh ngay bom số 1”
Số 2 cũng báo:
– Số 2 “in-hot”.
Số hai vào, cũng đánh rất thấp như số một, nhưng hai quả bom dài hơn khoảng 100m. Nơi hai quả bom của số 2 nổ, là một khoảnh rừng cao su, chắc cũng có nhiều Việt cộng chết trong ấy. Tôi gọi:
-Số 1, đánh ngay hai quả trước của anh.
Hai quả sau của số 1 cũng rơi rất chính xác. Vì muốn hủy diệt hoàn toàn mấy chiếc tăng, tôi thét lên:
-Số 2, đánh ngay bom vừa nổ.
Số 1 lặp lại công điện cho số 2.
Số 2 vào lần nầy đánh trúng ngay bom số 1. Thật hết xẩy! Tôi la lớn:
-Số 2, number one!
Số 2 vừa kéo lên break trái, một làn khói trắng dài bay phụt lên, đầu làn khói ấy là một chấm đen, đang quẹo vòng lại đuổi theo phi cơ số 2.
Tôi thét lớn:
-SA7! Số 2 nhảy dù! số 2 nhảy dù mau!
Không kịp rồi, làn khói đã tới phi cơ anh rồi, tôi nghe”đùng” một tiếng thật lớn giữa không trung. Phi cơ anh đã bốc cháy, nhưng đang còn bay lên, tôi thấy một vật đen bay ra khỏi phi cơ, may quá! Anh đã nhảy dù ra được rồi. Số 1 gọi hỏi tôi:
-Sơn Ca, anh thấy số 2 có nhảy dù được không?
-Nhảy dù được rồi tôi đang theo dõi…
Tôi gọi ngay cánh quân bạn phía Bắc:
-Phi cơ bị bắn cháy. Phi công đã nhảy dù. Nhờ bạn tìm cứu đem về giùm.
Quân bạn đáp:-Chúng tôi nghe rõ.
Tôi theo dõi mãi, không thấy dù bung ra, số 1 cũng đang theo dõi, chắc anh cũng không thấy dù bung ra như tôi, nhưng anh còn vớt vát hòi tôi:
-Sơn Ca có thấy dù mỡ ra không?
Tôi hoàn toàn thất vọng đáp:
-Không thấy.
-Bây giờ tôi còn bốn quả, đánh ở đâu?
Tôi đang lo điều động quân bạn tìm số 2, lòng dạ nào còn muốn đánh nữa, tôi nói:
-Ngay hai quả bom đầu của số 2, anh salvo hết đi. Việt cộng từ đám rừng đó bắn phi cơ đấy.
Số 1 đánh xong, còn làm đúng thủ tục oanh kích, gọi tôi:
-Sơn Ca, anh cho biết kết quả ?
-Phá hủy hai chiếc tăng, tiêu diệt nhân mạng không rõ.
Bất chợt quân bạn gọi lên báo cáo với tôi:
– Chúng tôi đã tìm được xác phi công (may quá có lẽ anh rớt gần quân bạn), mang cấp bậc Đại úy, bảng tên là Hùng.
Tôi gọi hỏi số 1:
-Có phải số 2 của anh là Đại úy Hùng không? Hùng nào vậy? (trong Không Quân ta, mỗi người còn có nickname đi kèm)
-Nó là HÙNG Sửa đó (thì ra nickname Hùng Sửa là Nguyễn-cao-Hùng khóa 65A) còn tôi là Nguyễn thế Qui.
Tôi hỏi ngay:
-Số 1 có phải Qui Lùn 65D không?. Hèn chi đánh đâu trúng đó.
Anh nói:
-Đúng rồi. Còn ai bay bên đó? Xin anh cho tôi biết tên để tôi làm báo cáo.
Tôi báo cáo tên họ, khóa 65F, phi đoàn 116 rõ ràng như lúc ở quân trường trình diện niên trưởng, chỉ thiếu không đọc số quân. Không biết niên trưởng Qui lúc đó có còn nhớ mặt thằng khóa đàn em nầy không? chứ tôi thì tôi biết anh rất rõ, vì anh cùng khóa với thằng bạn nối khố của tôi là Ấm Sứt Vòi. Anh hơi thấp người (chớ không đến đổi Lùn như nickname), đẹp trai, hiền lành, (vì ít phạt đàn em). Anh thấp người nhưng tài cao. Anh là một trong những chiến sĩ xuất sắc nhất của Không Quân. Khi còn mang cấp bậc Trung úy anh đã là Phi tuần trưởng khu trục rồi. Lúc phi đoàn 520 và 526 ở Cần Thơ đi Mỹ học A37, Qui thường xuyên dẫn biệt đội khu trục xuống Cần Thơ để yểm trợ cho vùng Bốn. Tôi đã nhiều lần hướng dẫn anh đánh, nên biết anh đánh rất chính xác, có những lần phải đánh tiếp cận, (ta và địch sát bên nhau) tôi đã gọi toán quân đầu đội nón sắt hai lớp, tôi điều chỉnh cho Qui đánh bom nổ cách quân bạn chỉ 50m, làm cho Ngô minh Trải bay với tôi sợ xanh mặt.

Qui gọi tôi nhờ theo dõi xác số 2 đem về đâu, anh báo anh đã gần hết xăng anh phải rời vùng.
Mới đây thôi, cùng cất cánh hai chiếc. Bây giờ bay về chỉ một mình, chắc Qui thấy xót xa buồn bã biết chừng nào!
Phi tuần thứ hai đã đến. Máu nóng nổi lên, tôi đánh tan nát đám rừng cao su ấy. Tiếp theo, tôi còn dập hàng ngàn quả pháo binh vào chung quanh đó, để trả thù cho Hùng. Bắn mãi đến lúc Thành báo;
-Gần hết xăng mình về Mộc Hóa đáp lấy xăng.
Tôi O.K!, nhưng trên đường về, tôi vẫn còn điều chỉnh pháo binh dội tiếp, tôi gọi bắn sang trái, sang phải, dài , ngắn, mỗi lần chỉnh 50m,(vì quân bạn ở xa, nên không sợ bắn vào quân bạn), tôi bắn như thế cho đến khi gần đáp xuống Mộc Hóa tôi mới chấm dứt tác xạ. Tôi hỏi thăm xác của Hùng, quân bạn cho biết đã khiêng anh về tiền cứ của Tiểu đoàn.

Hùng chết vì lý do cánh dù không bung ra được, không biết vì lỗi kỹ thuật hay vì dù đã bị cháy? Nếu Hùng nghe được tôi, nhảy dù liền may ra còn kịp. Nhưng vì máy vô tuyến của anh không nghe được tôi, phải chờ Qui chuyển công điện, nên chậm mất mấy giây chăng?
Nếu như hôm ấy tôi ngủ đi, hoa tiêu bay luôn về Cần thơ, thì Hùng sẽ không phải hy sinh. Hoặc khi tôi phát hiện xe tăng, chỉ báo cho bộ chỉ huy hành quân rồi bay đi luôn vì đã hết nhiệm vụ, chuyện đau buồn đó sẽ không xảy ra. Ôi! Cũng vì cái tánh “cà xóc”của tôi mà Không Quân ta mất đi một chiến hữu, gia đình anh mất đi một người con (cũng may anh chưa lập gia đình) Tổ Quốc mất đi một anh hùng. Tôi hối hận tại sao tôi đã ở lại, thi hành tích cực một phi vụ không phải của mình, dù có đánh diệt được hai chiếc tăng đó thì VC cũng sẽ được chi viện thêm 20 chiếc, 200 chiếc khác thay thế. Còn Cộng Sản Bắc Việt đánh đến bao giờ cho hết, vì trong đoàn thanh niên Cộng sản H.C.M, những mái đầu xanh mới 14, 15 tuổi đã được khuyến khích tình nguyện vào Nam “chống Mỹ cứu nước rồi”. Những oan hồn uổng tử ấy, chết đói trên đường mòn Trường Sơn, chết thảm trong rừng sâu nước độc. Giờ đây những oan hồn ấy, chắc uất hận lắm, khi thấy bọn người xúi giục họ đi chiến đấu chết thay con cái chúng, giờ đang sống huy hoàng sung sướng ở VN, cá độ đá banh hằng triệu đô la, tài sản nhà đất phải tính hằng triệu, hằng tỷ Mỹ kim. Con cháu cán bộ cao cấp đi du học ngoại quốc tiêu xài sang hơn cả các tiểu vương dầu hỏa.

Ngẫm lại, chỉ có những người lính là thiệt thòi, bên nầy cũng như bên kia, chúng ta đều bị ngoại bang giật dây cho lãnh đạo, lãnh đạo đã lợi dụng xương máu của chúng ta…
Cách đây không lâu, Ấm Sứt Vòi cho tôi biết số điện thoại của Qui ở Hawaii, tôi gọi thăm anh, anh rất mừng. Hai đứa chúng tôi ôn lại chuyện cũ mà nhớ thương Nguyễn cao Hùng, hai đứa đều sụt sùi. Qui kể cho tôi biết, lúc đi du học ở Mỹ, Hùng đã từng can đảm nhảy xuống biển để cứu một em bé Mỹ sắp chết đuối ở Florida. Anh được cả Thành phố vinh danh và trao tặng anh Nhân Dũng Bội Tinh.

Qui kể tiếp, vào ngày Hùng chết, Qui đang dẫn biệt đội biệt phái Sài Gòn. Hôm đó là ngày 20 tháng 5 năm 1972. Phi tuần Phoenix 51 do Qui bay số 1 và Thống (66A) bay số 2, đang túc trực chờ bay. Chợt Qui thấy Hùng vào, Qui mới hỏi:
-Mầy đang nghỉ phép vào đây làm gì Hùng?
Hùng đáp:
-Ở nhà buồn quá, nhớ tụi bây, muốn vào bay với mầy hôm nay.
Qui đáp:
-Được, vậy để gọi kỹ thuật chuẩn bị một chiếc nữa, Thống bay số 2, mầy bay số 3.
Thống chợt lên tiếng:
-Anh Qui, để anh Hùng bay thế tôi đi. Hôm nay tôi cũng có chút việc nhà.
Qui đáp:
-Cũng được. Thôi Thống về đi. Hùng, mầy đi ăn với tao, có lẽ mình cũng sắp đi bay rồi đó.
Hùng từ chối:
-Mầy đi ăn đi, hôm nay lễ Phật Đản, tao ăn chay, mầy mua cho tao gói xôi bắp được rồi.
Qui lặp lại nguyên văn mẫu đối thoại sau cùng với người bạn xấu số. Ngay buổi chiều sau ngày Hùng mất, Qui được báo, có phi cơ vừa chở xác một pilot khu trục về, Qui vội chạy đến kéo fermeture (zipper) của bọc nilon đựng xác để nhìn mặt Hùng. Nhưng không phải là xác của Hùng, mà là xác của anh hùng Phạm văn Thặng (Thặng Fulro),từ Pleiku chở về. Qui đứng lặng người. Lại thêm một đàn anh đáng kính của ngành khu trục đã ra đi lúc nào mà Qui không hay biết.( Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây kể chuyện về anh Thặng; Phi cơ của Thiếu tá Thặng bị bắn cháy khi còn mang nhiều bom đạn trên cánh, nếu anh bỏ phi cơ nhảy dù phi cơ sẽ rớt xuống, bom sẽ nổ tại khu đông người, không biết bao nhiêu người vô tội sẽ chết, anh nhất định không chịu nhảy dù theo lời kêu gọi của phi tuần viên, anh cố gắng bay xa thành phố, một mình đáp khẩn cấp với chiếc phi cơ đầy bom, có lẽ trên Bảng Phong Thần đã có tên anh là:THẦN NHÂN ÁI- vị Phúc Thần xã thân mình cứu người).

Chuyện bên lề.
Sau khi mang xác Hùng về Tiểu đoàn ấy, thuộc Sư Đoàn 21 bộ binh, ngày hôm sau, bốn trực thăng võ trang, yểm trợ cho một chiếc tản thương đáp khẩn cấp xuống để bốc xác Hùng về, trực thăng vừa đáp xuống thì thương binh đã ào lên đầy phi cơ, đạn VC pháo vào tới tấp, trực thăng phải bay về, không chở được xác Hùng mà chở được 14 thương binh về. Buổi chiều lại cũng như thế.

Qua ngày hôm sau phi cơ vừa đáp có lẽ VC đã sẵn sàng hỏa tập, nên chúng pháo tưng bừng, lại cũng chở được một số thương binh về. Thương binh nặng tại sao lại tranh được lên phi cơ?. Bộ chỉ huy hành quân nhận xét, rõ ràng có tổ chức hẳn hoi. Thì ra Tiểu đoàn trưởng xin tản thương không được, không cho đem xác Hùng ra sản ở bãi đáp như lịnh trên, mà chỉ khiêng thương binh của ông ra chờ sẵn, trực thăng đáp xuống là thương binh được đồng đội mạnh khỏe đẩy lên cho đầy phi cơ. Liên tục ba, bốn ngày như thế, Tướng Tư Lệnh hành quân nhận một chỉ thị trực tiếp từ Tổng Thống Phủ;

-Bằng mọi giá phải đem được xác viên phi công ấy về ngay ngày hôm nay!.
Tướng Tư Lệnh thét xuống Đại Tá Trung đoàn trưởng:
-Ngay ngày hôm nay, không đem được xác phi công ấy về, thì đích thân anh về trình diện tôi.
Đại tá thét xuống Tiểu đoàn trưởng:
-Ngay chuyến tản thương nầy, không đưa được xác phi công ấy về, mày cút đi đừng gặp mặt tao.
Vì sao mà có những lệnh gắt gao như thế? Thì ra, thân phụ của Hùng là một Thượng nghị sĩ danh tiếng, nằm trong một liên danh mà Tông Tông đang gờm. Ông xin vào gặp và năn nỉ Tông Tông:
-Đứa con yêu quý của chúng tôi đã hy sinh vì Tổ Quốc, xác đang nằm trong tay quân bạn, thế mà không được đem về chôn cất, hỏi còn ai dám hy sinh chiến đấu nữa?
Tông Tông phần thì thông cảm cho gia đình; phần thì rất gờm ông thượng nghị sĩ, nên mới ra lệnh khẩn cấp như thế.

Nhưng lệnh là lệnh, vị Tiểu đoàn trưởng không vì lệnh mà nhẫn tâm đứng nhìn những đứa em bị thương rên la thảm thiết, nếu không tản thương là chết, nên ông bình tỉnh cho tản hết những thương binh nặng của ông về. Đã một tuần qua đi. Tướng Tư Lệnh giận quá, hằng ngày bị ở trên chửi xuống, ông bèn gọi gặp thẳng Tiểu đoàn trưởng, ra lệnh vị nầy giao tiểu đoàn lại cho Tiểu đoàn phó, về Bộ Tư Lệnh trình diện ngay lập tức. Đây là Quân Lệnh!!!

Ngay chuyến tản thương ấy, Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Đ.một Tiểu đoàn trưởng lừng danh của Sét Miền Tây-biệt danh của Sư đoàn 21 BB-mà tôi cũng đã từng quen biết anh. Anh về cùng một số thương binh nhẹ còn sót lại và xác của Hùng, được để vào bọc nylon cẩn thận.
Hai quân cảnh được lệnh ra tận máy bay “ hộ tống” Thiếu tá Đ. Vào gặp Tướng Tư Lệnh. Tóc anh gần chấm đến vai, râu ria xồm xoàm, mặt mũi hốc hác. Đó là hình ảnh của những chiến sĩ ngày đêm đương đầu trực diện với địch quân ngoài trận mạc. Không biết bao nhiêu lâu rồi anh chưa được tắm, có chăng là ngồi nấp dưới hố hoặc giao thông hào ướt đẫm vào những lúc trời mưa.
Vào đến nơi, anh nghiêm chỉnh chào trình diện Tư Lệnh. Tư Lệnh vỗ bàn thét lớn:
-Anh muốn làm loạn hả? Kỷ luật Quân đội dạy anh như thế hả?
Dường như có chuẩn bị tinh thần sẵn, anh dõng dạc trả lời:
-Thưa Tư Lệnh, tôi phạm kỷ luật Tư Lệnh cứ cho vào quân lao. Nhưng xin Tư Lệnh cho tôi được trình bày:
-Cố Thiếu tá Không quân Hùng đã đền nợ nước. Tôi kính trọng và cảm phục gương hy sinh anh dũng của ông ấy. Tôi đã cho đem xác ông về hậu cứ chờ đưa về chôn cất. Nhưng dù sao đi nữa , thì ông ấy cũng đã chết rồi. Còn em út tôi, bị thương nằm la liệt, không tản thương được, lâu ngày có những đứa vì vậy mà chết. Dù ở cấp bậc nào cũng là chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người thương binh nầy sau khi điều trị lành rồi, họ còn tiếp tục ra chiến đấu được nữa, nên tôi phải cãi lịnh trên mà cho di tản họ về, còn người đã chết như cố Thiếu tá Hùng, đem về dù sớm hay muộn gì cũng chỉ để chôn cất mà thôi.

Thiếu tá Đ. ngừng lại một giây, đợi phản ứng của ông Tướng, rồi nói tiếp:
-Mấy ông Không quân, bạn bè mấy ổng chết, bằng mọi giá mấy ông ấy cũng liều mình đáp xuống lấy xác về, còn em út tôi bị thương, đáp xuống để tản thương mà bị pháo kích hay bị phòng không bắn, là mấy ông ấy bốc máy bay lên ngay, không chịu đáp.
(Điều nầy, hắn nói oan cho Không quân chúng ta quá, phải không quý anh trực thăng?)
Tướng Tư Lệnh hơi dịu giọng:
-Anh đã biết “Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”. Lịnh là anh phải thi hành. Thôi, anh hãy ra ngoài đi, việc của anh tôi sẽ có quyết định sau.
Có lẽ Tướng suy nghĩ thương tình, nên sau nầy Tướng đã cho Thiếu tá Đ. về làm Chi khu trưởng của một quận ở vùng Bốn chiến thuật, chắc chắn anh thương dân cũng như đã thương lính của anh vậy.

Thay lời kết
Thưa các bạn, chúng ta sinh ra cùng thời và trưởng thành cùng lúc với cuộc chiến Việt-Nam ngày càng đi vào những giai đoạn ác liệt và tàn khốc nhất. Chúng ta hầu hết phải rời bỏ mái gia đình êm ấm, phải rời bỏ mái trường thân yêu, phải rời bỏ các phân khoa Đại Học đầy tươi sáng cho tương lai, để cùng nhau vào quân ngũ, cùng học chung quân trường, cùng khóa 65 Không quân. Trong chúng ta đã có quá nhiều bạn bè cùng khóa đã hy sinh trên chiến trường, đã gởi phần thể xác mình cho miền Nam tự do, ôi những người bạn thật hiền lành, thật tốt bụng, thật dễ thương đã trở thành những anh hùng bất tử như: Trần thế Vinh, Phan quang Tuấn, Trương công Thành, Trần quốc Trung, Vũ Tùng, Trương đông Đình, Hoàng quốc Huấn, Huỳnh Lô, Trần văn Bời…và…còn nhiều …nhiều lắm, không sao kể hết và còn một người bạn nửa của chúng ta đang là anh hùng: Lý-Tống.

Nhưng riêng cái chết của Nguyễn cao Hùng đã làm tôi ân hận mãi. Nhưng biết đâu, với cái chết anh hùng ấy, anh được lên miền cực lạc. Biết đâu giờ nầy anh đang sung sướng, chiều chiều ngồi vắt chân chữ ngũ nơi tiên cảnh, nhắp rượu bồ đào, nhâm nhi mấy quả đào tiên, đêm trăng vào cung Quảng xem Hằng Nga, cùng một bầy tiên nữ múa vũ khúc Nghê Thường. Nếu anh còn sống thêm ba năm nữa đến ngày mất nước, phải vắt giò lên cổ bỏ cả gia đình mà chạy, thoát được qua đây cũng phải đi cày hộc xì dầu để sống. Còn không may mắn ở lại, phải chịu cảnh tù đày khổ sở, đói khát, lao động khổ sai. Rẻ lắm cũng gở năm, bảy cuốn lịch. Một bên là anh chết được lên miền cực lạc, một bên là anh sống trong địa ngục trần gian, chắc là anh chọn cái chết. Bây giờ có lẽ anh không giận tôi, mà anh đang cám ơn tôi, phải không Niên trưởng Hùng Sửa 65A?

Sơn-Ca 23-SVSQ Lê-văn-Sùng-khóa 65F

Tuesday, September 7, 2021

ĐỂ TRUNG ĐỘI TRƯỞNG PHÙNG QUANG THANH THOÁT CHẾT: - Bút ký chiến trường tại Hạ Lào trưa ngày 11.Feb.1971)

Những nhân vật mà OSS "gài vào" nội bộ CSTQ như điệp viên Edgar Snow, đại tá David D. Barrett ... móc nối với Yaleman Mao Trạch Đông trong khi HCM thật đã chết... mới xuất hiện nhiều HCM giả và sau nầy Virus/CIA sẽ ngụy tạo dài dài trong chính tình VN NGƯỜI GIẢ như NĐD, HCM, Phùng Quang Thanh, TĐQ, NPT ... Ðó là mục tiêu mờ mờ ảo ảo theo kiểu làm ăn của soạn giả W.A.Harriman mà cũng là siêu chiến lược gia hoàn vũ. Harriman thấy cần thiết phải có tổ chức CIA vào năm 1947 thoát thai từ Tình Báo Quân Đội OSS phải quyết tâm giữ kịch bản theo thế siêu chiến lược "Eurasia-1" (1920-2020), nên phải để cho Mao chủ đạo về chỉ định nhân lực có lợi cho THẾ BÊNH KẺ MẠNH,
Thế nên chiến hửu đã hiểu nghĩa đã là đồng minh với nhau mà xem là bắt đắc dĩ là sao, như chữ mà Harriman đặt cho HCM giả là ("an unexpected ally" = https://www.amazon.ca/OSS-Ho-Chi-Minh-Unexpect…/…/0700616527 ) là phải dùng như một công cụ theo thời gian rồi thanh toán rút ống dưởng khí khi vắt chanh hết nước. Vì ngày đại tang 2/9 xui lắm, và 2/9 năm nay thì đâu đâu cũng thấy hàng rào kẻm gai giăng mắc !!!! nên mới có bài viết của tác giả: "Skull and Bones chọn ngày Quốc Khánh 30/4 cho VN" - Page 7; https://hoiquanphidung.com/showthread.php…...
Trung đội trưởng Phùng Quang Thanh chém vè vào rừng già.
Thế là từ Trung úy Phùng Quang Thanh lên tướng cho THẾ BÊNH KẺ MẠNH theo mưu đồ trồng người của Mao, họ Phùng cùng họ Hồ Tập Chương gốc Tàu, dĩ nhiên có lợi cho phía Trung Cộng và giữ Võ Nguyên Giáp sau nầy cho thế trận "ĐBP Trên Không" vào Giáng Sinh năm sau 1972. Sau ĐBP/ 1954 Very Very Secret Society dựa vào KGB (Stalin) nên phải hy sinh nhóm thân phò Mao như HCM, Chu Văn Tấn, Nguyễn Chí Thanh, Trần Độ, Ðinh Bá Thi ... để đưa nhóm thân LX lên như Lê Duẩn, 3 anh em Sáu búa lên thế nhưng phải đổi họ từ Phan ra Lê, Ðinh, Mai theo kiểu ngụy danh như Queenbee-1.
Vì vào giai đoạn "roll back" (2010-2020) VVSS buộc Phùng Quang Thanh sẽ hy sinh danh phận vào ngày 1/7/2015 như tác giả đã có nhiều bài viết về vụ nầy dưới sự chứng giám của bà Jewell Sally Bộ trưởng nội an (homeland Security) và bà Ted Osius.
Nhắc lại trận chiến Lam Sơn 719 Nam Lào
Nhớ lại ngày 11 tháng 2 năm 1971, Phùng Quang Thanh Trung-đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 Thép trực tiếp chỉ huy một trung đội chốt giữ đồi Không Tên của trận đánh đường 9 nam Lào, trước đó có trung úy Phùng Quang Thanh đụng trận bị Phi đội gunship 213 Song Chùy Queenbee-1 rượt đuổi, nhưng may mắn tầm đạn 7,62 minigun chưa phun ra tới bìa rừng ... Duy nhứt chỉ có Trung đội-1 thuộc 64/320 vụt thoát vào rừng già mà tác giả cho rằng có lẽ trung úy Phùng Quang Thanh trà trộn trong toán chém vè nầy nên mới thoát bị loại ra khỏi vòng chiến để liền sau đó Trung Tâm huấn luyện tân binh tại Bản Đông (Aluối) bổ xung đầy đủ quân số thành trung đoàn 64B, 24B .
P.Q.Thanh trung đội trưởng tùng thiết cho một đơn vị T-54 và PT-76 của trung đoàn chiến xa 202, … có lẻ chết hụt tại điểm phục kích bắc Aluối trên đường 92B... xem hình một binh sỉ trung đoàn 64 tùng thiết bị đạn 7,62 cắt đứt lìa cánh tay phải và túi kẹp đạn nơi ngực bị đạn lửa làm nổ tung các viên đạn nhưng sắt che chắn bảo vệ không làm nát bấy phần ngực (hình CIA mua lại hình nầy từ phóng viên nhà báo Đông Âu)
Có thể bạn chưa biết? - Ngày N + 4 là ngày 11 tháng 2 năm 1971, Phùng Quang Thanh-Trung đội trưởng Trung đội 1, Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320 trực tiếp chỉ huy một tiểu đội chốt giữ đồi Không Tên, không may gặp phải Đại đội Trinh Sát thuộc tiểu đoàn 8 Dù có gunship Song Chùy 213 yễm trợ hoả lực do Queenbee-1 Lead chia làm 2 mủi tấn kích ngang hông trụ chốt của Phùng Quang Thanh đang chỉ huy trung đội chờ đại đội Dù vào gần mới dám nổ súng, dĩ nhiên đụng với Dù không chết thì cũng bị thương nằm la liệt, trung đội Thanh vì yếu đành phải chém vè để khỏi bị gunship Song Chùy tàn sát qua chỉ bằng một nốt nhạc vì mưa đạn. (trích dịch 1 đoạn từ tác phẫm 2 "The New Legion" và sách "The Better War" by Lewis Sorley.)
Hai ngày sau một đại đội Trinh Sát Dù thuộc tiểu đoàn 8 lại tiến công phá chốt, Phùng Quang Thanh bị thương, cấp trên cho lui về tuyến sau nhưng anh xin ở lại chiến đấu hay không thể đào thoát được vì nơi đây là cao điểm ẩn núp tương đối an toàn. Phùng Quang Thanh đành liều chết nhờ đồng đội tháo nắp lấy lựu đạn cho vào túi đeo quanh người để sống chết trong trận chiến; nhờ y tá băng và treo cánh tay trái cho đỡ vướng rồi dẫn đầu tiểu đội chém vè tạt ngang hong tiểu đoàn 8 Dù mất dạng trong rừng già theo lịnh trung đoàn trưởng 64/320.
Trước đó 2 ngày, N+2, là 9/2/1971, trung đội P.Q.Thanh đi trinh sát địa hình ở dãy điểm cao 543. Khi vừa đến chân điểm cao thì bị gunship Song Chùy ập đến cover Landing Zone, đổ quân 1 tiểu đoàn Dù/Lử đoàn 1, và chiếm giữ luôn điểm cao này của vùng Aluối,(Bản Đông).
Song Chùy 3 Trần Lê Tiến lead prep vào đội hình của Trịnh Tráng tham mưu Phó sư đoàn 308 bị thương vì mãnh rocket 2,75 vào bả vai không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được. Thật là không hên cho trung đoàn 64/320 thép nầy đang dừng hành quân đường dài thì có lịnh của Tổng Tham mưu Phó, Lê Trọng Tấn: “Trung đoàn 64 dừng hành quân đường dài, quay sang Trạm 4 (Aluối, Bản Đông - Nam Lào) sau khi thấy Lử đoàn 1 Dù của đại tá Lê Quang Lưởng vừa đáp xuống Aluối, Bản Ðông ngày hôm qua ngày N + 1 = 8/2/1971.
Đến điểm hẹn, Trịnh Tráng tham mưu phó sư đoàn 308 đã chờ sẵn và cho biết ngay: “Địch đã đổ quân xuống khu vực Bản Đông (Aluối), chúng ta phải khẩn trương chuẩn bị và tổ chức chiến đấu” và cũng bảo vệ TTHL tân binh ngay mặt trận để thay quân ... thí dụ trung đoàn 24 bị gunship Song Chùy làm cỏ thì đổi tên mới là trung đoàn 24 B, chử B nầy sẽ ló dạng sau chuổi ngày đụng trận với quân Dù sau nầy với con chim lửa Song Chùy chuyên độc nhứt yễm trợ hoả lực tiếp cận cho Dù như Tổng tư lịnh TT Thiệu gật đầu khi trung tướng Dư Quốc Đống không tin vào sự bảo vệ hoả lực của Cobra Mỹ. (VNAF Persistent Close Air Support (PCAS, volume-II là danh từ của MACV/SOG ca ngợi VNAF gunship 213 Song Chuy on spot)
Báo cáo tình hình và nhận được mệnh lệnh của Bộ: “Đưa ngay lực lượng xuống chốt chặn tại đồi Không Tên” (khu vực ngã 3 Cha-phi, án ngữ đường 16 đi xuống Bản Đông, nhập vào đường 92B (Aluối) cách điểm cao 543 mà phía QLVNCH đã chiếm giữ gần cách 3km).
Tối hôm ấy, lực lượng của Tiểu đoàn 9/64/320 đã được bố trí tại khu vực đồi không tên. Lúc 10 giờ sáng ngày 13/2/1971, trung đội 1 đang ở vị trí chỉ huy ở khu đồi Không Tên thì máy bay vỏ trang lên thẳng Song Chùy ập đến bắn phá và dộng rockets vào đội hình tiểu đoàn 9/6 của ta, lửa và mảnh rockets cùng các bell xăng cháy rực xung quanh trận địa thật khủng khiếp vì trúng phải dump xăng.
Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9/64/320 báo cáo: Địch đổ quân vào đội hình của ta, đề nghị cho đánh. Phó tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn đồng ý và ra lệnh ngay cho bộ đội vừa bắn máy bay vừa xung kích vào các vị trí mà địch vừa đổ quân. Tại một mỏm sát vị trí chỉ huy tiểu đoàn, nơi có một trung đội của đại đội 9, ta và địch giằng co nhau ác liệt. Chính từ điểm cao này, đã xuất hiện những gương chiến đấu quả cảm và liều chết của ta xứng danh là "Sanh Bắc Tử Nam" sau khi được học tập dùng biển người dưới trận địa pháo cường tập của 152 và 130 ly khoá chân chôn chật trên các ốc đảo. Sau khi bình địa các Căn Cứ Hoả Lực của địch thì tứ bề tấn kích hô vang "Hàng Sống Chống Chết" bắt cho được số tù binh ngang hàng với ÐBP 1954 là 8000 tù binh ...
Trung đội trưởng Phùng Quang Thanh, mặc dù bị thương, máu chảy ướt đẫm cánh tay nhưng anh vẫn động viên đồng đội chiến đấu kiên cường bảo vệ an toàn cho vị trí chỉ huy và bảo vệ sườn cho các mũi tấn công của đội hình Tiểu đoàn 9 (sau này đồng chí Phùng Quang Thanh được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT ND, về sau là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, nhưng đã bị thanh toán vì theo Tàu phản nghịch toan làm cuộc đảo chánh thì bị NCV nháy mắt cho TĐQ phá tan bắt giảm lỏng trong BQP).
Sau gần 40 phút chiến đấu, ta làm chủ một phần trận địa và bắt được 9 tù binh, họ khai là lực lượng công binh đến làm hầm chỉ huy tại đồi Không Tên. Âm mưu của địch là chiếm đồi Không Tên cùng với lực lượng ở điểm cao 543 khống chế khu vực phía Bắc Đường 9 (điểm dự trù Đồi-32 cho Lử đoàn-1 Dù; nhưng TT Thiệu xóa bỏ cải lại đặc lịnh hành quân của tướng Haig, Pentagon) do lực lượng phục kích của ta bởi một phân đội PT-76 và T-54 phục 2 cạnh đường 92B thì bị Queenbee-1 phát hiện như một bầy voi nằm dọc 2 bên đường.
Trận đụng độ chiến xa lớn nhứt giữa Trung đoàn 202 và Liên Ðoàn 1 Thiết Kỵ
Trận phục kích thiết giáp VNCH trên đường tiến đến tiếp viện Ðồi-31. Đoàn chiến xa của 2 Chi đoàn 17, và 11 thoát khỏi bị phục kích trên đường 92B bắc Aluối, nhờ đã bị gunship PÐ/213 do Queenbee-1, Liên đoàn trưởng LÐ/51/Tác Chiến lead, phát hiện trước. Vì thế trận nầy 2 Chi đoàn chưa kịp đụng trận thi gunship Song Chùy trên trục yểm trợ hoả lực cho TÐ 8 Dù trên đường tiến sát cứu viện về hướng bắc Ðồi-31 có thiếu tá Bùi Đức Lạc pháo binh Dù, QueenBee-1 đã phát hiện trước mặt dưới lùm cây Tre gai lố nhố xám xịt như bầy Voi rừng nằm ủ rủ dưới cạnh hai mép đường. Thấy được người khổng lồ với đôi chân đất sét mà xung quanh là rừng núi vây chặt chạy đâu cho thoát với chúng tôi; Tôi gọi điều động gấp thêm 2 chiếc gun nữa là 4 gun chơi một trận cho đã.
Trung úy Trần Lê Tiến trên đường bay đến Bản Đông (A-luối), trang bị Pod hoả tiển 19 trái chống Tăng lên nhổ chốt phục kích. Nhờ đại tá Battreall ra lịnh cho các Toán Conexs rockets của sư đoàn 101 Không Kỵ trang bị hoả lực cho VNAF)
Trận nầy gunship 213 lần đầu tiên tiêu diệt một số chiến xa với 104 hoả tiển chống Tăng, làm tê liệt ổ phục kích dưới con mắt tôi là một bãi tha ma không lay động dật dờ vài đám khói ngấm ngầm thoáng lên, và 8 khẩu minigun cư như thế mà quét sạch không để trống một khoảng nào. Những binh lính BV tùng thiết cho trung đoàn chiến xa 202, bị tiêu diệt hầu như xoá sổ trung đoàn 64/320 SÐ Thép, tàn quân không còn bao nhiêu phải chạy trối chết về hướng bắc của Ðồi-31, Trung doàn sừng-sỏ nhứt thổ địa vùng nầy cũng te tua phải bị xoá sổ, tái bổ xung quân số đặt tên khác là trung-đoàn 24B, phải rửa hận khi trung-đoàn nầy quyết lấy máu tiên phong đánh chiếm Ðồi-31 mà họ đã được phục thù bắt được đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lũ Đoàn-3 Dù, vào lúc 5 giờ chiều ngày 25/2/1971 .
Tưởng cũng nên nhắc lại phía bên VNCH có sự thắc mắc trận đụng độ chiến xa với chiến xa lớn nhứt mà phía VNCH chiến xa không bị trầy trụa gì cả? Thêm vào phía Mỹ thì có nhiều thắc mắc? Ðể khỏi mất lòng tin của độc giả, người viết xin mời đ-g vào bất cứ thư-viện nào tìm SÁCH lời tựa: “A Better-War”, MỤC: Lam Son 719, TRANG: 259, HÀNG: 26 nhưng ác nổi Lewis Sorley không cho biết đơn vị hoả lực nào phá tan cuộc phục kích chiến xa chọi chiến xa lớn nhứt trong trận chiến Đông Dương (chiến hửu cứ gỏ: Tại sao KGB phải than rằng, ... troi sanh KGB ma con sanh queenbee-1 lam chi ! ... Rồi click sẽ hiểu rỏ nguyên nhân.
“Early in the operation the 1st Squadron, 11th Armored Cavalry had encountered NVA armored elements in a fight at Fire Base 31 and performed brilliantly, destroying six enemy T-54 tanks and sixteen PT-76 without any friendly losses in the first major tank-to-tank engagement of the war!”
(Tạm dịch cuộc hành quân mới bắt đầu, Chi đoàn 11th tao ngộ chiến với một đơn vị chiến xa BV (trung đoàn CX/202) ngay chân đồi Căn Cứ Hoả Lực Ðồi-31 và chiến đấu ngoan cường phá hủy 6 tăng T-54 và 16 thiết xa PT-76 mà quân bạn không bị thiệt hại gì cả cho một trận đụng độ lớn nhứt Chiến xa đụng chiến xa,)
Ðó là lý do tướng 3 sao Sutherland Thiết Giáp cùng Ðại tá Battreall đặt nhiều nghi vấn về trận chiấn thắng nầy?
Nguồn tin phía "bên Thắng Cuộc" của Huy Đức
Trong lúc đội hình địch (QLVNCH) đang bị rối loạn vì tiểu đoàn 6 Dù trực thăng vận ngay ổ phục kích bi vây quanh bởi các hầm chìm-nổi kiên cố bao quanh LZ dưới chân Đồi 31, Trung đoàn trưởng 64/(vừa mới bổ xung tân binh xong như trung đoàn 64B) ra lệnh cho các hướng, các mũi tiếp tục xung kích. Đến khoảng 16 giờ thì phía địch bị bộ đội ta dồn xuống khu vực suối cạn ở bản A-la-nhay nhưng chúng ta không đuổi theo vì bị gunship Song Chùy oanh kích chận lại. Tối đó, Tiểu đoàn 9 tiếp tục công kích, tiêu diệt phần lớn Tiểu đoàn 6 của Lữ đoàn Dù 3 ngụy gom lại. Ba ngày tiếp theo, 16/2/1971 bộ đội ta dùng chiến thuật biển người sanh bắc tử nam tiếp tục truy kích, đuổi đánh tàn quân nhưng chúng đã vừa rút bỏ Ðồi-30 với sự yễm trợ của 3 gunship Song Chùy với đường bay lã lướt cạ càng trên cành cây chỉ cho địch thủ thấy mình khi mình đã thấy họ trước nêu cần thì tàn sát. Nhưng tiểu đoàn-2 Dù đã rút lui đúng lúc hướng dẩn cùng BCH Lử đoàn-2 Dù phải rút lui và phía sau là 1 đại đội BÐQ đi tập hậu; vì các đại bác QLVNCH bị 152ly BV làm tê liệt; đến ngày 16/2/1971, ta đã làm chủ hoàn toàn đồi Không Tên, tạo bàn đạp để tiếp tục tiến đánh điểm cao 543 (Đồi-31), nơi có sở chỉ huy Lữ đoàn Dù 3 ngụy đang chiếm giữ.
Bắt giữ đại tá lữ trưởng Lữ đoàn 3 Dù Nguyễn Văn Thọ
Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi dành 3 ngày đi trinh sát thực địa tại khu vực điểm cao 543 (Đồi-31để có đủ căn cứ cho việc xây dựng phương án tác chiến. Tại đây, địch bố trí Tiểu đoàn 3 Dù, chỉ có 300 tay súng mà thôi trong trận địa pháo 105mm và 155 ly sở chỉ huy lữ đoàn với sự chi viện tối đa của không quân, pháo binh. Địch đã xây dựng được một hệ thống công sự phòng ngự khá chặt chẽ, nhiều tầng lớp. Sáng sớm 20/2/1971, quân ta bắt đầu nổ súng nhưng không thành công vì vướng 3 hàng rào dây thép gai và gặp phải sự chống trả quyết liệt của địch. Trong cuộc họp rút kinh nghiệm, chỉ huy trung đoàn 64B và 24B (mới vừa bổ xung thêm quân lính mới tại mặt trận, còn QLVNCH không thể có) quyết định thay đổi cách đánh (tổ chức cho bộ đội đặc công sự vây lấn). Những ngày tiếp theo, trận đánh diễn ra ác liệt, giằng co. Ta chiếm được một phần, địch phản kích chiếm lại, dù địch chỉ có 300 tay súng Dù phòng ngự mà thôi, mà lực lượng ta đông nhưng không thiện chiến như họ, hôm sau ta lại tái chiếm…
Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh mặt trận tăng cường thêm 6 khẩu B41 và một đại đội xe tăng (4 chiếc T-54). Chúng tôi tổ chức cho đơn vị và các lực lượng phối thuộc đi trinh sát để nghiên cứu đường đi cho xe tăng xuất kích theo hướng Nam-Đông Nam của điểm cao, hướng tiến công mới mà trung đoàn xác định là hướng chủ yếu, để thiết xa PT-76 của ta có thể cơ động leo được.
Ngày 25/2/1971, cuộc chiến đấu dai dẳng giữa các chiến sĩ tiểu đoàn 8, trung đoàn 64 B với quân địch vẫn diễn ra quyết liệt. 10 giờ 30, anh Phạm Hồng Sơn (Tham mưu trưởng chiến dịch) điện tiểu đoàn trưởng 9/64B:
“Tiến ơi! Ông Dũng (Thượng tướng Văn Tiến Dũng) bảo mày chậm chạp quá!”. Hắn trả lời: “Thưa anh, trong ngày hôm nay chúng tôi sẽ san phẳng căn cứ địch”.
Đúng 13 giờ ngày 25/2/1971, đội hình thiết xa PT-76 của ta dũng mãnh dẫn đầu tấn công cao điểm 543, trong khi T-54 không leo được bắn trực xạ lên Đồi 31. Sự xuất hiện thiết xa PT-76 đã gây bất ngờ cho địch, chúng sợ hãi, lui lại co cụm và gọi hỏa lực chi viện. Chớp thời cơ, người chỉ huy ra lệnh cho đơn vị tổng công kích, quân ta tràn vào điểm cao làm cho địch bị rối loạn và vỡ trận. Đến 16 giờ 30 phút ta cơ bản giải quyết xong trận địa, chỉ còn 4 hầm địch còn ngoan cố chống cự. Với sức mạnh áp đảo, ta đã chế áp, dùng lựu đạn khói, buộc chúng phải đầu hàng, trong số này có tên Đức, tham mưu trưởng Lữ dù và 15 tên chỉ huy các cấp. Trung tá Mai là Lữ đoàn phó, chạy trốn ra vạt rừng, cũng bị ta tiêu diệt. Trong số tù binh ta vừa bắt được có tên cần vụ của lữ đoàn trưởng Dù, anh ta khai: “Đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ trưởng có mặt và chỉ huy trực tiếp tại đây”.
Người Tổng chi huy ra lệnh cho anh em lùng sục, truy tìm nhưng không thấy. Đến 18 giờ, các đơn vị đều báo cáo là đã bắt hết tù binh, nhưng đài kỹ thuật của ta vẫn nghe thấy tiếng của đại tá Thọ gọi điện xin viện binh, pháo bắn vào căn cứ và đưa máy bay H-34 quần thảo trên trời chờ cơ may như không bao giờ có theo lịnh của C&C/HU-1 chỉ huy do bộ tham mưu tiền phương Dù là đợi lịnh của LÐ/51/TC xuống lịnh cấp cứu... đang vần vủ trên không ...vào để cứu hắn. Ông ra lệnh cho đồng chí Đông, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 8, tiếp tục kiểm tra lại các hầm trú ẩn của địch. Đồng chí Quyết, Trung đội phó và Thượng sĩ Dục nhận nhiệm vụ truy lùng tên Thọ. Đến lần thứ 3, hai anh xuống lại khu vực hầm chỉ huy của tên Tiểu đoàn trưởng Dù ngụy thì vẫn thấy một tên nằm sấp như đã chết, đầu hắn quay vào trong, hai chân hướng ra ngoài. Sờ vào thấy người hắn vẫn còn nóng, Quyết đá vào chân và nổ súng xuống đất. Hắn vội bò dậy, tay run run nộp khẩu súng ngắn và lắp bắp nói: “Dạ, dạ tôi là đại tá Nguyễn Văn Thọ”. Nhận được tin báo, chúng tôi mừng lắm, lệnh cho anh em giải ngay tên Thọ về sở chỉ huy.
Quá trình dẫn giải tên Thọ, chút nữa thì thì tên này đã đào thoát. Số là, lợi dụng trời tối và có mưa, đường trơn, trượt; khi vừa xuống tới chân điểm cao, Thọ xô ngã Trung đội phó Quyết và bỏ chạy. Rất nhanh trí, đồng chí Đông hô tập hợp một tiểu đội sau đó hô lớn: “Toàn đơn vị truy tìm, thấy nghi ngờ là bắn bỏ”. Thọ sợ quá, lóp ngóp từ lùm cây bò ra: “Dạ, dạ, tôi đây. Tôi bị té…”.
Theo Trung tướng Khuất Duy Tiến, đó là những phút giây chờ đợi, căng thẳng. Căng thẳng vì trên đường dẫn giải tên Thọ có an toàn không? Bộ Tư lệnh mặt trận rất cần “cái lưỡi" của tù binh lữ đoàn trưởng Dù kia. Nếu để ông ta đào thoát hoặc cán bộ dẫn giải “manh động” thì biết làm sao. Giây phút căng thẳng đã kéo dài cả đêm hôm đó cho đến gần sáng hôm sau. Chỉ khi bộ phận dẫn giải đưa Thọ về đến sở chỉ huy, lúc đó mọi người mới “thở phào”.
Trông Thọ lúc này thật đáng thương, quần áo bê bết bùn đất, tóc tai bơ phờ, mặt mày hốc hác, mắt đỏ ngầu. Người chỉ huy bảo anh em cởi trói cho Thọ và đưa đi rửa mặt mũi tay chân. Chờ cho Thọ nghỉ một lát, hắn hỏi: “Anh có đói không?”. Hắn thật thà: “Dạ, đói”. Ong nhắc đồng chí cần vụ mang cơm ra, Thọ ăn liền 3 bát. Tôi trực tiếp pha một bát sữa bột và đưa cho Thọ, viên đại tá, lữ đoàn trưởng Dù ngụy nhận bát sữa, vừa uống vừa khóc, sau đó đã thành khẩn khai báo.
Những lời khai của Thọ (khi đã được kiểm tra) là những thông tin rất cần thiết cho các trận đánh tiếp theo của chiến dịch …
Đại tá Nguyễn Văn Thọ - Lữ đoàn trưởng, Lữ dù 3 VNCH cùng toàn bộ ban tham mưu bị bắt sống bởi Đơn vị của trung úy Phùng Quang Thanh lúc đó đang là Trung đội trưởng thuộc E64, F320B, khi toàn bộ Lữ dù 3 VNCH bị Trung đoàn 64 B QGPMN xóa sổ tại đồi Không Tên, trên điểm cao 543, hay còn gọi là Căn Cứ Hỏa Lực 31 trong chiến dịch Lam Sơn 719 - đường 9 Nam Lào 1971.
* - Kế hoạch rescue 2 phi hành đoàn H-34 của tôi hoàn toàn bị đình-động
11 giờ 30 ngày 25/2/1971, bổng bất thần 42 khẩu trọng pháo của Mỹ ở Khe Sanh đã đồng loạt tác xạ vào chung quanh Ðồi-31 theo chính lịnh của đại tá Thọ vì áp lực của địch vô cùng dữ-dội, trước sự ngạc nhiên bất ngờ của chúng tôi đang standby chờ đợi sương mù tan từ sáng sớm cho đến khi nghe tiếng 42 đại pháo của Mỹ gồm 8 Inch và 175 ly bắn vào chụp xuống ngay Đồi-31. Như vừa thỏa thuận buổi họp sáng nay. Quả thật, thời tiết sương mù tan trể đã làm hư hỏng kế hoặch mà Khe Sanh tháng nầy sương mù tan quá trể để các trung đoàn BV thừa cơ tấn kích sớm hơn hành động xuất phát phi vụ cấp cứu của chúng tôi. với hàng chục tiểu đoàn dùng biển người có thiết xa P-76 mà nuốt chửng tiểu đoàn 3 Dù Trừ chỉ có 300 tay súng mà đầu đã đội hàng chục ngàn tạc đạn đủ loại.
Đến 3:45 chiều theo đồng hồ của tôi, nơi 2 Bunker Ðồi-31, 2 PHÐ cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong hầm trú ẩn. Ðến trưa khi 2 PHÐ bắt đầu nghe tiếng máy nổ quen thuộc xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận địa, nói theo danh từ quân BV là "Trận địa pháo” dồn dập lên chung quanh Ðồi 31 cả địch và bạn.
“Than ôi! Ðúng là mưu sự tại nhân thành sự tại thiên”. Quân BV đã lợi dụng sương mù chuẩn bị một lực lượng hết sức hùng-hậu, đông như Kiến mong sẽ chụp 300 thiên thần mũ đỏ chống đỡ. Vi dân-bay đã thấy trước qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, 2 PHÐ thây rõ hai chiếc thiết xa PT-76 còn T-54 không leo lên được nên từ dưới chân đồi bắn trực xạ lên Ðồi, Cả LÐ-3 Dù, mà chỉ có 300 chiến sĩ chống giữ. Quân BV thuộc Trung đoàn 24B/304, 64B/320 và thêm 2 Trung đoàn 9 và 66 sắp sữa tham chiến, chúng đang bôn tập từ hướng đông bắc tới.
Bây giờ Trung Ðoàn 24B đang tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc theo sau chung quanh nhắm đỉnh đồi-31 mà nhả đạn. Còn trung đoàn cơ-động 27 đang án-ngữ hướng tây chận TÐ-6 Dù đang bị thương nặng ở bên sườn tây. Những tia lửa nòng súng phụt ra từ các PT-76 và T-54 thuộc Trung Ðoàn chiến xa 202. Dưới Bunker, dân bay thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhớ câu mà anh em trong phi đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân "Trời kêu ai nấy dạ, đạn tránh người chớ người không thể tránh đạn!"
Ngồi trên ghế lái C&C như Ðĩa phải vôi, tôi không ngờ quân BV mạnh và nhiều đơn vị cấp trung đoàn đến thế, chúng âm mưu tấn công như bầy kiến tha hột cơm, làm sao quân Dù phòng thủ cũa ta chỉ có 300 tay súng chống đỡ? Có cả thiết vận xa PT-76 và chiến xa T-54 từ dưới chân núi bắn trực xạ lên.
Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội C trên căn cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích 152 ly xuyên phá cũa của LX, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào thiết-xa PT-76 địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc PT-76. Nhưng để trả giá cho hành động dũng-cảm này nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ, trong số này có cả pháo đội trưởng Nguyễn văn Ðương, người đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó. Anh em Dù vui sướng reo mừng trong hầm bên này. Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 thiết-xa PT-76 khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi 31 mà bắn! Còn những chiếc T-54 không leo lên được thì sũa bậy bạ lên phía trên đồi đễ hù dọa các thiên thần mũ đõ. Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 Phantom xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình Trung Ðoàn 24B, 64B và lại phá hủy thêm 2 PT-76 nữa. Nhưng chẳng may một chiếc F-4 bị trúng phòng không 37ly xì khói, phi công đang nhảy dù, thế là tất cả phi cơ Mỹ đều bỏ lại và dồn nổ lực vào rescue chiếc F-4, người quan sát viên Việt ngồi ghế sau thuộc Phi-đoàn 110 cũa FAC Bronco OV-10 đành thở ra lắc đầu ngao-ngán.
Bộ chỉ huy Dù tiền phương cùng tôi ngồi UH-1 C&C đã mục kích cảnh Mỹ bỏ dở cuộc chiến để lo cú bồ không có ngày nào mà không bị xảy ra; thế là LĐ/51/TC phải gia tăng hoạt động tải thương tiếp tế đạn nhỏ và nước uống cho quân bạn ... nói đến đây tôi uất hận vị tướng VNCH Nguyễn Duy Hinh được viết bằng Anh ngữ mà nở nhẩn tâm đâm sau lưng chiến hửu không có một chử nào về công trạnh của Liên Ðoàn 51 Tác Chiến (51nd Combat Group) do tôi chĩ huy.
Trong tiếng bom đạn tơi bời, dân bay mừng rở vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 thương yêu đang vần vũ trên cao cùng chiếc UH-1 C&C của con chim đầu đàn Queenbee-1 "Nguyện không bỏ anh em không bỏ bạn bè" như đã từng giải cứu anh em vừa qua tại cứ điểm Hồng Hà SÐ/1/BB, đang vang vọng trên đó như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng 5 giờ chiều thì quân BV tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, 2 PHÐ tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm.và chịu cảnh hàng binh
Về phía VNAF, Bửu, Khánh, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và ngay tức khắc bị dẫn giải ra bắc băng đường 92B chung với tất cả tù binh khác, vì sợ B-52 trải thảm. Không thấy Giang và Em đâu. Anh em KQ tim hỏi nhau, họ bắt đầu thăm hỏi các SQ và binh sĩ Dù trên đường bị áp tãi. Cuối cùng họ gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các anh ra đầu hàng. Ðến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần cơ-phi Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi anh Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn anh Em gục chết ở bên đường.
TRUONG VAN VINH: 
LIÊN ÐOÀN TRƯỞNG LÐ/51/Tác Chiến.

Friday, August 27, 2021

Trung tá Không Quân Nguyễn Đức Hòa Nguyên Không Đoàn trưởng Kỷ Thuật Tiếp Vận Sư Đoàn 6 KQ VNCH

 Được tin buồn

Trung tá Không Quân Nguyễn Đức Hòa
Nguyên Không Đoàn trưởng Kỷ Thuật 
Tiếp Vận Sư Đoàn 6 KQ VNCH

Đã từ trần vào ngày 21 tháng 8 năm 2021
Tại Fountain Valley,California, Hoa Kỳ
Hường thọ 92 tuổi
Chân thành chia buồn cùng Bà quả phụ Nguyễn Đức Hòa và tang quyến
Nguyện cầu Hương linh 
Tr/tá KQ Nguyễn Đức Hòa 
sớm về Miền Vĩnh Cửu

Gia Đình KQ NLG Phù Cát
 Thành kính phân ưu

Saturday, August 7, 2021

Trận Đánh Cầu Giây Đèo Mụ Giạ VC

Sau Tết Ta chúng tôi lại cơm tay cầm phi cơ T28 kéo nhau đi biệt phái ra  vùng I Đà Nẵng như thường lệ. Ngày mùng15 rằm và 16 tháng giêng còn đánh đấm ở vùng các căn cứ địa địch bên trong vùng I. Có tin tình báo của Mỹ và Lôi Vũ địch thừa dịp ba ngày Tết đình chiến chúng nó vc kéo quân rần rộ xuôi Nam. 
Không qua ngỏ đường mòn hồ chí minh nữa mà theo các quốc lộ 1 di chuyển quân  bằng xe Molotova của Nga sô đến Vĩnh Linh rồi ngang qua cầu giây Đèo Mụ Giạ, đi bộ chuyễn sang đồn ba biên giới Lào, Campuchia và xâm nhập Việt Nam tư do như chổ không người. 
Ngày mùng 17 các phi vụ, Phi Hổ Vàng Hợi Voi, truy kích địch ở vùng Ashau Alưới. Phi hổ Xanh Hưng Phệ đánh bôm nơi căn cứ địa địch Bạch Mã phía Tây đèo Hãi Vân chừng 25 dậm đường bay. 
Còn Phi hổ Tím I và Sĩ-Cò vào lúc 10 giờ trưa chúng tôi kéo nhau cất cánh đi tiếp cứu đồn Địa Phương Quân quá gần nhà dân chúng ở mỏ than Nông Sơn thật là trần thân khổ nhọng vì nếu đánh bôm hay bắn hỏa tiển trọn bó bảy trái thì sợ vào nhà dân chúng sẽ gây thiệt hại nặng nề. Cho nên không thể bắn tròn một bó bảy hỏa tiển 2,75 nên phải bắn từ trái hỏa tiển ngỏ hầu tránh thiệt hại cho dân lành. 
Chúng tôi bay vòng quanh trên đồn ĐPQ gần cả giờ đồng hồ để bảo vệ đồn không cho vc tấn công và không khai hỏa được chỉ chờ hai Đại Đội ĐPQ tiếp viện. Chừng một giờ sau khi tiếp viện đến bắt tay nhau thì Đại Đội trong đồn mới bung ra hợp đồng tìm đánh vc từng nhà một. 
Thành ra chúng nó chạy kéo ra các hầm mỏ than Nông sơn trốn tránh để bảo toàn lực lượng. Nhưng bị các cánh chim đại bàng thanh toán gọn gàng. Mỏ than Nông sơn không cần nổ mìn để lấy than nhờ bốn T 28 bắn phá cũng nhiều than đá bể ra rồi cũng tiện việc khai thác thôi.
Trưa 12 giờ chúng tôi về đáp Đà nẵng, khi vào phòng hành quân chiến cuộc thấy có mặt Tr/úy Trần Đại Charlie và Đại /úy Mỹ Peterson cố vấn cho Th/Tá Trần Khắc Kính Phòng Biệt kích chuyên các phi vụ hành quân và thả toán bên kia vỉ tuyến 17.
Sĩ Cò liền bảo với tôi tao cá độ một chầu bún bò bà Nhàn với Quan hai Tàu bay! Chắc chắn có phi vụ vượt tuyến đang chờ đợi chúng mình rồi đó. Tôi trả lời liền nếu Sĩ Cò muốn chiều nay ra chơ ăn bún bò bà Nhàn thì Quan Hai Tàu bay sẳn sàng chi cho như thường lệ, còn cá độ chi cho mất công. Vì khi thấy Tr/úy Đại Charlie và Đại/úy Peterson là biết ngay chuyện gì đang đợi chúng mình rồi? Vượt tuyến là chắc chắn 100/100 rồi đó nghen!
Khi bàn xong việc phi vụ vượt tuyến ra đánh Cầu Giây Đèo Mụ Giạ. Tr/úy Trần Đại Charlie và Đại/úy Peterson ra về. Chúng tôi lấy mấy tấm hình không ảnh do phi cơ Mỹ chụp. Hai bên đầu cầu Đèo Mụ Giạ tụi vc làm hai lóc xi măng hình vuôn vức chừng một trăm thước vuôn, chôn các cột sắc to tướng để giử các giây cáp làm chiếc cầu đi qua ngang đèo cho an toàn.
Hình ảnh 8 súng phòng không 37 ly bốn cây mổi bên bó cành lá xung quanh để ngụy trang, và các phòng không 12 ly 7 để chống các toán biệt kích miền Nam ra tấn công bất thần. Nhiều nhà chòi lá cho lính phòng thủ ở. KQ Mỹ khi tới nơi bay vòng trên 10 ngàn bộ trước khi đánh phá, nên tụi vc có đủ thì giờ chống trả tàn nhẩn với 8 khẩu phòng không 37 ly. 
Chúng tôi bàn tín chiến thuật triệt hạ cây giây vc đèo Mụ Gia như sau.                                      Tổng cộng 3 phi tuần 10 T 28.  Hai phi tuần nặng mổi phi tuần 4 bốn phi cơ cùng  nhau bay thật thấp theo hai bờ Đông Tây của đèo vào đánh bất ngờ.
Và một phi tuần nhẹ hai phi cơ bay yểm trợ khi có phi cơ nào phi công phải nhảy dù ra hỏi phi cơ. Thêm hai phi cơ trực thăng H 19 bay thấp chừng trăm bộ cách 10 dậm phía nam để cứu trợ khi cần.
Hai phi tuần nặng, một phi tuần do Sĩ Cò và Huề Ghiền với hai phi tuần viên. Phi tuần nặng thứ hai do Tím 1 và Minh Chè và Phiên Rách cùng một phi tuần viên. Mổi phi tuần, hai Leader ráp hai trái 500 cân đầu bôm nổ chậm và 4 trái 250 cân đầu bôm nổ liền khi đụng đất. Hai phi cơ phi tuần viên ráp 4 trái 250 cân đầu nổ liền khi chạm đất và bốn bó bảy hỏa tiển 2,75 cho mổi bó để trừ những phòng không 12,7 của địch.
Phi tuần nhẹ hai phi cơ do Hợi Voi và Le Trai ráp tám bó 7 trái hỏa tiển để bảo vệ các phi công nếu có gì bất trắc nhảy dù khi phi cơ bị trúng đạn. Chiều hôm trước ngày N cho Thọ Charlie ráp bôm đạn xong cho tất cả 10 phi cơ dự liệu như trên. Tối đó chúng tôi cả phi công về ngủ sớm để ngày mai thức dậy lúc bốn giờ sáng lo cất cánh lúc 5 giờ sáng.
Sáng ngày N chúng tôi lúc bốn 4 giờ 15 sáng đã có mặt tại phòng hành quân chiến cuộc và buổi tiền thuyết trình cho phi vụ nói trên được được cặn kẻ dặn dò cho nhau những chi tiết nhỏ do Tím 1. Lúc 4 giờ 30 chúng tôi ra phi cơ kiểm soát tiền phi, quay máy và thông báo đài không lưu khí tượng xin di chuyển phi vụ 007. Được chấp thuận ra cất cánh đúng 5 giờ sáng.
Phi tuần Hơi Voi và hai trực thăng H19 cất cánh liền sau đó.
Trời còn sương mù đóng trên rừng cây xanh và các ngọn núi đồi. Vừng dương còn đang ngái ngủ  đang lấp ló ở lòng biển rộng bao la tận cuối chân trời xa xâm. Hai phi tuần nặng cất cánh xong rời tầng số đài không lưu và liên lạc với đài rada trên núi Sơn Trà kiểm soát chiến thuật vùng I Panama do chú tư Dupont chỉ huy.  
Hai phi tuần nặng xuống trăm bộ cách mặt đất di chuyển về hướng Bắc kẹp theo hai bên bờ cây cối còn mờ sương muối của Đèo Mụ Giạ. và tuyệt đối im lặng không liên lạc nhau bằng vô tuyến.
Đúng 15 phút sau nghe tiếng Sĩ Cò đếm trong vô tuyến 5...4…3…2…1. Tôp.
Phi tuần Sĩ Cò và Huề ghiền kéo lên đánh  bên phía Đông  và  phi tuần  Tím 1 và  và Phiên Rách đánh bên phía Tây của cây cầu giây Đèo Mụ Gia.  
Sau lần hai phi tuần đánh bôm nổ đầu tiên và hỏa tiển tám bó bảy trái mổi bó, làm cỏ sạch đã thanh toán xong tám cây súng phòng không 37 ly, và các căn nhà của các cán binh vc chắc còn đang mê giấc ngủ chưa thức đã theo lên thiên đàng của ông Karl Max. Lần đánh bôm thứ nhì sao không thấy bôm nổ  vì các đầu bôm nổ chậm chui xuống sâu trong lòng đất dưới hai lốc xi măng. 
Mười phút sau bốn tiếng nổ long trời lở đất của bốn quả bôm 500 cân đầu đạn nổ chậm làm hai lốc xi măng tung bắn tứ hướng lên trời và cả nguyện cây cầu giây Đèo Mụ Gia rớt ngay xuống lòng suối của đèo tan tành không còn manh giáp. Tiếp theo phi tuần Hơi Voi thanh toán các phòng không 12,7 của địch còn lại
Tất cả ba phi tuần đã trở về căn cứ Đà Nẵng an toàn. Chừng hai giờ liền sau đó  bên Th/tá Kính gởi hình không ảnh do phi cơ Mỹ chụp cây cầu Giây Đẻo Mụ Giạ trong tình trạng hư hại hoàn toàn chỉ còn đống săt vụn ngổn ngang dười lòng đèo sâu. Sau khi bị KQVN CH đánh bôm phá hủy tan tành.
Để thân tặng các phi công nào còn hiện tiền trên cỏi đợi Ô Trọc nầy nhu Hợi Voi, Phiên Rách, Minh Chè và ghi công ơn các phi công đã bay phi vụ cuối cùng về Miền Miên Viễn trong vụ đánh bôm Cầu Giây Đèo Mụ Giạ, Sĩ Cò và Huề Ghiền và tất cả các phi tuần viên sau khi di tản qua Mỹ phần đất sống tạm dung nầy.
Trích trong “Hồi Ký Tình Người Phi Công Khu Trục” của Thiên Phong Nguyễn Hồng Tuyền.