Time passes quickly. In the year I transferred to Squadron 219, beginning in April 1968, it had been exactly five years since April 26, 1963, the day I stepped into the Military Academy of Huỳnh Hiếu Đạo to become an Air Force Officer Cadet of the Republic of Vietnam Air Force.
One night with Squadron 219, I truly faced death. The helicopter pilot of another squadron flew in and out countless times. There were moments when I was wounded and could not forget the dangerous hours during those missions—flying into deadly situations just to survive until today. Meanwhile, on those very same days, I had to witness the passing of so many comrades, each with their own stories.
Living through unforgettable memories of a pilot’s life, I can never forget August 3, 1968. That afternoon, we were assigned to extract an American Special Forces team surrounded by communist troops in Quảng Trị province, at A Sầu. We successfully brought them out safely, though the flight crew endured extremely difficult and dangerous moments. Throughout my flying career, I encountered many other perilous situations. Thanks to the skill and dedication of the flight crew, we overcame countless dangers to survive until today.
The battlefield had many comrades—some survived, some fell forever. I deeply mourn them all.
I am proud to have been a pilot, together with the heroic units of the RVNAF. On July 21, 1969, Captain Đường and I received orders to go to the Tactical Support Squadron of the 1st Air Division to receive new assignments. Today, I remember many stories—flying across many regions, facing battlefield moments, enduring hardships, and carrying personal memories of the victories I achieved throughout my flying career.
That day was different from all others; Captain Tường and I wore our uniforms neatly.
The ceremony was simple but solemn, held under combat conditions. Brigadier General Nguyễn Cao Kỳ, Commander of the 1st Air Division of the RVNAF, and a U.S. Air Force Colonel representing the U.S. Air Force Command, along with another Colonel from the unit whose soldiers Captain Trường had saved during the mission at A Shau on August 3, 1968, all attended.
According to Captain Tưởng, that day was filled with indescribable emotions. Colonel Reandes felt the weight of the mission in a life‑and‑death situation. Because of the brotherhood between RVNAF soldiers and their American allies, they stood together. After the rescue, Brigadier General Kỳ expressed his gratitude to the RVNAF, especially Squadron 219 and Captain Trường’s flight crew on August 3, 1968.
The most solemn and honorable moment of the ceremony was the awarding of medals. The U.S. Colonel, representing the United States Government, pinned the Silver Star for gallantry onto Captain Trường’s chest. I received the Distinguished Flying Cross (DFC), a prestigious decoration of the U.S. Air Force. It was the greatest honor for the RVNAF, for Squadron 219, and especially for Captain Trường and me.
On January 22, 1969, at the request of the training school, a formation of six helicopters departed with a special mission. After the victory, we took off from Nha Kỳ airfield and landed at the F.O.B.I base, where Sergeant G. was already standing by.
⭐ – Trang 1
Thời gian trôi qua thật nhanh. Năm tôi được thuyên chuyển sang Phi đoàn 219, bắt đầu từ tháng 4 năm 1968, cũng vừa tròn năm năm kể từ ngày 26 tháng 4 năm 1963 — ngày tôi bước vào Trường Võ bị Huỳnh Hiếu Đạo để trở thành Sinh viên Sĩ quan Không quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Trong một phi vụ đêm cùng Phi đoàn 219, tôi đã thực sự đối mặt với cái chết. Người phi công trực thăng của một phi đoàn bạn đã liều mình bay vào rồi bay ra không biết bao nhiêu lần. Có những lúc tôi bị thương, và những giờ phút hiểm nghèo ấy vẫn còn in đậm trong ký ức — những chuyến bay lao vào chỗ chết chỉ để giành lấy sự sống cho đến hôm nay. Cũng trong những ngày đó, tôi phải chứng kiến sự ra đi của biết bao đồng đội, mỗi người mang theo một câu chuyện riêng không bao giờ được kể hết.
Những ký ức của đời phi công luôn theo tôi, và tôi không thể nào quên ngày 3 tháng 8 năm 1968. Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi nhận nhiệm vụ giải cứu một toán Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ bị quân cộng sản bao vây tại Quảng Trị, ở thung lũng A Sầu. Chúng tôi đã đưa họ ra an toàn, dù phi hành đoàn phải trải qua những giây phút vô cùng gian nan và nguy hiểm. Trong suốt sự nghiệp bay, tôi đã gặp không ít tình huống sinh tử. Nhờ sự khéo léo, bình tĩnh và tinh thần trách nhiệm của toàn phi hành đoàn, chúng tôi đã vượt qua biết bao hiểm nguy để còn sống đến ngày hôm nay.
Chiến trường có nhiều đồng đội — người còn sống, người đã nằm lại vĩnh viễn. Tôi thương tiếc tất cả họ.
Tôi hãnh diện vì đã được phục vụ trong binh chủng Không quân VNCH, cùng những đơn vị anh hùng. Ngày 21 tháng 7 năm 1969, Đại úy Đường và tôi nhận lệnh đến Phi đoàn Yểm trợ Chiến thuật thuộc Sư đoàn 1 Không quân để nhận nhiệm vụ mới. Giờ đây, khi nhớ lại, tôi thấy hiện lên biết bao câu chuyện — những vùng trời đã bay qua, những giờ phút chiến trường căng thẳng, những gian khổ đã chịu đựng, và những chiến công mà tôi mang theo như những kỷ niệm riêng của đời phi công.
⭐ – Trang 2
Ngày hôm đó khác hẳn mọi ngày; Đại úy Tưởng và tôi đều chỉnh tề trong quân phục, chuẩn bị cho một buổi lễ đặc biệt.
Buổi lễ được tổ chức đơn giản nhưng trang trọng, ngay giữa điều kiện chiến đấu. Chuẩn tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân VNCH, cùng một Đại tá Không quân Hoa Kỳ đại diện Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ, và một Đại tá khác thuộc đơn vị có những binh sĩ được Đại úy Trường cứu trong phi vụ tại A Shau ngày 3 tháng 8 năm 1968, đều hiện diện.
Theo lời Đại úy Tưởng, ngày hôm đó tràn ngập những cảm xúc khó diễn tả. Đại tá Reandes cảm nhận rõ sức nặng của nhiệm vụ trong hoàn cảnh một mất một còn. Tình đồng đội giữa quân nhân VNCH và những người bạn Hoa Kỳ đã gắn kết họ lại với nhau. Sau cuộc giải cứu, Chuẩn tướng Kỳ đã gửi lời cảm ơn đến binh chủng Không quân VNCH, đặc biệt là Phi đoàn 219 và phi hành đoàn của Đại úy Tưởng trong phi vụ lịch sử ấy.
Giây phút trang trọng nhất của buổi lễ là lúc trao huy chương. Vị Đại tá Hoa Kỳ, đại diện Chính phủ Hoa Kỳ, đã gắn lên ngực Đại úy Tưởng huy chương Silver Star — Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao bạc. Còn tôi được trao Distinguished Flying Cross (DFC) — Huân chương Phi công Xuất sắc, một phần thưởng cao quý của Không quân Hoa Kỳ. Đó là niềm vinh dự lớn lao cho Không quân VNCH, cho Phi đoàn 219, và nhất là cho chúng tôi — những người trực tiếp tham gia phi vụ.
Ngày 22 tháng 1 năm 1969, theo yêu cầu của trường huấn luyện, một biên đội gồm sáu trực thăng xuất phát trong một nhiệm vụ đặc biệt. Sau chiến thắng, chúng tôi cất cánh từ phi trường Nha Kỹ và đáp xuống căn cứ FOB1, nơi Trung sĩ G. đã sẵn sàng chờ đón.
Chào quý bạn,
Để quý bạn hiểu rõ hơn những Khó Khăn, Nguy Hiểm và Khổ Cực mà anh em chúng tôi đã trải qua trong các phi vụ rướt toán, tôi xin ghi lại đôi dòng về một kỷ niệm không bao giờ phai.
Khó Khăn — Có lúc chiếc KingBee phải đáp một bánh bên phải trên triền núi cao, nghiêng mình giữa vực sâu để rướt toán. Chỉ cần sơ sẩy một chút là cả phi hành đoàn và toán biệt kích sẽ mất mạng.
Nguy Hiểm — Toán đang bị quân địch truy kích, chạy băng qua đường để đến điểm Trực Thăng. Tiếng súng của quân thù bắn đuổi phía sau, từng loạt một, không ngừng nghỉ.
Khổ Cực — Lựu đạn cay nổ ngay gần đó, nước mắt nước mũi chảy ròng ròng, mắt bỏng rát, thở không ra hơi. Trong lúc ấy, tiếng súng của quân thù, của BK, của Cobra nổ dồn dập chung quanh Trực Thăng, tạo thành một khung cảnh hỗn loạn nhưng đầy quyết tâm sống còn.
Trong hoàn cảnh đó, phi hành đoàn KingBee vẫn giữ vững tinh thần, điều khiển chiếc trực thăng như một sợi chỉ treo giữa trời, để Lead rướt toán BK về hậu cứ an toàn trong phi vụ ngày 03-08-1968 — một ngày mà tôi không bao giờ quên.
Hôm nay, tôi xin gởi đến quý bạn một vài trang trong cuốn hồi ký của tôi, ghi lại trung thực những giây phút sinh tử ấy, gồm các trang 218, 219, 220, 221, 278, 279, cùng với bằng khen DFC mà tôi đã nhận được.
Xin trân trọng chia sẻ để quý bạn hiểu thêm phần nào những gì anh em chúng tôi đã trải qua trong những năm tháng chiến tranh.
VĂN PHONG HỒI KÝ CHIẾN TRƯỜNG
1. Trên vùng núi Phước Ninh
Vùng núi Phước Ninh hiện ra trước mắt như một bức tường đá sẫm màu. Ba cố vấn Mỹ cùng chúng tôi mở rộng khu vực Camp Eagle, tiến sát chân núi phía tây đường Sơn – Quế Ninh. Từ Camp Eagle, ba chiếc trực thăng vọt lên hơn 5.000 bộ, vòng qua sườn núi để quan sát. Bên trái của KingBee, hai chiếc Cobra đang quần thảo, từng loạt đạn phóng ra sáng rực cả một góc trời, oai phong và dữ dội.
Chiếc Gunship mang bốn băng rocket, mỗi băng 19 ống phóng, phía trước là cặp đại liên, phía sau còn thêm một khẩu nữa. Trên đường bay, khẩu M79 liên thanh bắn dọn đường, phối hợp với hoả lực 12 ly từ bộ binh dưới đất, mở lối cho chúng tôi tiến về Kỳ Trường Tây, giữ nguyên cao độ để vào mục tiêu.
Sau hơn mười giờ bay, tôi thấy chiếc O‑2 lượn vòng trên mục tiêu. Phi công quan sát báo có “mạng 3” ngay trước mặt KingBee, nằm trên một vùng rêu đá. Cobra được gọi vào chuẩn bị tấn công. Hai chiếc Cobra hạ dần cao độ, lao thẳng vào mục tiêu, từng loạt rocket phá tung vùng nham sương quanh hoả điểm, theo đúng hướng dẫn của O‑2. Tiếng nổ dội lên từng vạt núi.
Nhờ hoả lực yểm trợ đó, KingBee chúng tôi tiến gần mục tiêu, vừa chờ thời điểm, vừa nín thở vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho phi hành đoàn NBR. Hai chiếc trực thăng vẫn giữ đội hình, tiến cao hơn để quan sát.
Khoảng hai mươi phút sau, phi công quan sát báo: “Ringbee – Leader hơi rối tay khi sửa ngang sương.” Nhận lệnh từ 17/Uy, Leader Quảng gọi cho Ringbee 2 và 3 tiếp tục tiến vào mục tiêu, đồng thời báo cho O‑2 và Cobra biết
Leader đã thấy mục tiêu và bắt đầu xoay trực thăng theo hướng dẫn. Trường đầu NBR mở máy, xả nhanh, chuẩn bị vào giai đoạn quyết định.
2. FOB‑1 Phú Bài – Huế
FOB‑1 Phú Bài là nơi tôi thường ghé mỗi khi có dịp. Những ngày yên bình hiếm hoi, tôi đưa vợ đi chợ Đông Ba, chiều đến chở vợ con ra bờ sông Hương hóng gió, nhìn dòng nước lững lờ trôi qua thành phố cổ kính.
Ngày 03.08.1968, tôi bay với Leader Quảng ra Phú Bài – Huế. Trời trưa hôm đó không đẹp, mây thấp, gió đổi hướng liên tục. Khi bay vào trại lính, tôi thấy một chiếc Cobra đã nằm sẵn trong bãi, chuẩn bị phối hợp với tổ máy của chúng tôi. Trên đường vào trại S.O., chúng tôi gặp các phi công Gunbee và hai phi công Cobra đang chờ để vào họp phối hợp.
Sau khi hoàn chỉnh kế hoạch, C.S. báo có một team gồm bốn A.S., toàn bộ do người Mỹ lái. Tỉnh đoàn và trung đoàn đều đã báo sẵn sàng. Chúng tôi rời phòng họp, tiến ra phi cơ. Đường vào bãi đáp dài khoảng 12 cây số, dẫn thẳng đến Gunbee.
Khi vào vị trí standby trên mục tiêu, Leader, đường dẫn, toán, xạ thủ sau đều vào vị trí. Năm chiếc Cobra trắng mở máy, ba chiếc Gunbee giữ đội hình. Hai chiếc Cobra tách khỏi căn cứ, bay theo Gunbee, tạo thành đội hình hỗn hợp tiến thẳng đến mục tiêu.
Chúng tôi xếp đội hình, giữ đường bay thẳng, chuẩn bị vào vùng nóng.
❤️ ĐNQ: Bộ binh Mỹ nổ súng tại Căn Cứ Tự Quốc, đơn vị 1.
Rước toán bằng dây**
Ngày 22-07-1969, theo yêu cầu của Trại Trưởng FOB-1, KingBee phải có sáu chiếc trực thăng để thực hiện một phi vụ đặc biệt. Đúng 10 giờ sáng, sáu chiếc H-34 cất cánh từ phi trường Đà Nẵng, bay ra Phú Bài và đáp xuống sân bay của trại FOB-1. Sĩ quan trực mời các Trưởng phi cơ vào phòng họp để thuyết trình nhiệm vụ.
Theo lời trình bày, hôm nay KingBee sẽ bay ra Quảng Trị để rước một toán 18 quân nhân đang bị Cộng sản bao vây ở phía bắc cây số 17, trên đường mòn Hồ Chí Minh. Toán đã di chuyển đến một khu vực tạm an toàn dưới tán rừng rậm của dãy Trường Sơn. Vì không có bãi đáp, KingBee phải rước toán bằng dây, mỗi trực thăng kéo lên ba người.
Sau buổi thuyết trình, anh em trở ra phi cơ. Người của trại mang dây ra phụ với cơ phi của từng chiếc để cột vào các khoen trên sàn tàu. Mọi việc chuẩn bị hoàn tất, sáu chiếc trực thăng mở máy, cất cánh theo hướng tây bắc bay thẳng đến mục tiêu. Yểm trợ KingBee là hai chiếc Gunship của Mỹ, phối hợp cùng phi cơ quan sát và đội hình H-34 của VN — bộ ba quen thuộc trong mọi phi vụ rước thả toán.
Bay khoảng một giờ, chiếc O-2 đang bay lượn trên mục tiêu bắt đầu liên lạc, hướng dẫn KingBee tiếp tục tiến vào và gọi Gunship đến LZ trước để “clear” bãi. Hai chiếc Gunship hạ thấp cao độ, lao thẳng vào mục tiêu. Vài phút sau, những trái rocket đầu tiên được phóng xuống, trong đó có rocket “nail” để chống biển người. Sau một đợt bắn phá dữ dội, Gunship rời mục tiêu và gọi KingBee vào LZ.
Theo phi cơ quan sát, toán đang nằm dưới rừng cây cao và cực kỳ rậm rạp, không có một khoảng trống nào đủ để trực thăng đáp xuống, buộc phải dùng dây. Chiếc leader bắt đầu vào trước. Trực thăng hovering trên đầu ngọn cây, dây được thả xuống. Gió cánh quạt mạnh làm cây rừng nghiêng ngả. Một lúc sau, trực thăng kéo lên được người lính BK đầu tiên, rồi người thứ hai, thứ ba. Ba người lính treo lơ lửng dưới thân tàu, chiếc leader rời bãi an toàn.
Chiếc thứ hai vào và cũng hoàn tất nhiệm vụ. Đến lượt tôi.
Tôi đóng auto, trực thăng rơi nhanh. Tôi đưa cần lái qua phải rồi qua trái để giữ thăng bằng. Khi ước lượng khoảng cách vừa đủ, tôi kéo pitch, trực thăng khựng lại và từ từ tiến vào bãi. Hovering trên đầu ngọn cây đúng vị trí toán đang chờ, cơ phi thả dây xuống. Người BK đầu tiên móc dây, cơ phi báo lên, tôi kéo pitch và đưa anh lên khỏi đầu ngọn cây. Liên tiếp người thứ hai, thứ ba được kéo lên. Gió mạnh làm cây lá nghiêng ngả, nhưng nhiệm vụ của tôi đã hoàn tất: ba người lính đang treo lơ lửng dưới thân tàu, an toàn.
Tôi đẩy cần lái về trước, trực thăng từ từ rời bãi, lên cao và thoát khỏi khu vực nguy hiểm. Chiếc thứ tư, thứ năm, rồi thứ sáu lần lượt vào và rời bãi sau khi kéo đủ số quân còn lại. Trong suốt thời gian KingBee rước toán, hai chiếc Gunship bay trên đầu mục tiêu để yểm trợ.
Khi sáu chiếc trực thăng đã rời xa bãi, Gunship bắt đầu bắn phá dữ dội xuống khu vực như muốn tiêu diệt toàn bộ quân thù.
Trên đường bay về, chúng tôi bay chậm theo hướng căn cứ cây số 17 (Huế). Lúc này tôi đã giao cần lái cho Copilot. Tôi thở phào nhẹ nhõm sau một phi vụ vừa nguy hiểm vừa đặc biệt. Nhìn ra ngoài, những người lính nhỏ bé đang treo lơ lửng dưới thân tàu — những người vừa được chúng tôi kéo về từ cõi chết. Tôi chợt nhớ những ngày huấn luyện ở Non Nước, tập câu dây từng động tác một. Không ngờ hôm nay, giữa thực tế chiến trường, những bài tập ấy đã cứu người.
Theo quyết định của leader, chúng tôi đáp xuống căn cứ cây số 17. Sau khi đáp, toàn bộ toán viên được chuyển sang một chiếc trực thăng khác để bay thẳng về FOB-1.
Ngoài phi vụ này, hôm nay chúng tôi còn bay thêm một phi vụ liên lạc. Đến 16 giờ chiều, sáu chiếc trực thăng rời Phú Bài bay về Đà Nẵng — như đàn chim sau một ngày vất vả, trở về tổ ấm đoàn tụ cùng gia đình.
Qua khỏi đèo Hải Vân, đội hình vào formation, bay thấp ngang đầu phi đạo Đà Nẵng, rồi dọc theo sông Hàn. Từng chiếc tách khỏi đội hình, đáp xuống Taxiway 35 và lăn vào parking của Phi Đoàn 219, kết thúc một ngày hành quân đặc biệt.
Capt. Vương Văn Ngọ – 63D219
Extraction by Rope
On July 22, 1969, at the request of the FOB‑1 Camp Commander, KingBee was required to provide six helicopters for a special mission. At exactly 10:00 a.m., six H‑34s lifted off from Da Nang Airfield, flew to Phú Bài, and landed at the FOB‑1 camp airstrip. The duty officer invited the aircraft commanders into the briefing room for the mission presentation.
According to the briefing, today KingBee would fly to Quảng Trị to extract a team of 18 soldiers who were being surrounded by Communist forces north of Kilometer 17, along the Hồ Chí Minh Trail. The team had moved to a temporarily safe area under the dense canopy of the Trường Sơn mountain range. Because there was no landing zone, KingBee had to extract the team by rope, each helicopter lifting three men.
After the briefing, the crews returned to their aircraft. Camp personnel brought out the ropes and helped each crew chief attach them to the rings on the cabin floor. Once preparations were complete, the six helicopters started up and took off, heading northwest directly toward the target. Supporting KingBee were two American gunships, coordinating with an observation aircraft and the formation of Vietnamese H‑34s — the familiar trio in every insertion and extraction mission.
After about an hour of flight, the O‑2 circling above the target began radio contact, guiding KingBee forward and calling the gunships to the LZ first to clear the area. The two gunships dropped altitude and dove straight toward the target. Minutes later, the first rockets were fired, including “nail” rockets used against massed infantry assaults. After a fierce barrage, the gunships pulled off target and called KingBee into the LZ.
According to the observation aircraft, the team was lying under extremely tall and dense jungle canopy, with no open space large enough for a helicopter to land — forcing a rope extraction. The lead aircraft went in first. Hovering above the treetops, the rope was lowered. The rotor wash bent the forest canopy violently. After a moment, the helicopter lifted the first BK soldier, then the second, then the third. With three men dangling beneath the aircraft, the lead ship departed safely.
The second aircraft went in and also completed its extraction. Then it was my turn.
I disengaged auto‑hover; the helicopter dropped quickly. I moved the cyclic right, then left, to keep balance. When I judged the distance just right, I pulled pitch — the helicopter jerked to a stop and slowly moved into the extraction point. Hovering above the treetops exactly where the team was waiting, the crew chief lowered the rope. The first BK soldier clipped in; the crew chief signaled, and I pulled pitch, lifting him above the treetops. Then the second, then the third. The strong rotor wash made the leaves and branches sway violently, but my mission was complete: three soldiers were safely hanging beneath the aircraft.
I pushed the cyclic forward; the helicopter slowly left the LZ, climbed, and exited the danger zone. The fourth, fifth, and sixth aircraft each went in and departed after lifting their assigned men. Throughout the entire extraction, the two gunships circled overhead providing cover.
Once all six helicopters had cleared the LZ, the gunships began a heavy barrage on the area, as if determined to wipe out all enemy forces.
On the return flight, we flew slowly toward the Kilometer 17 base (Huế). By then I had handed the controls to the copilot. I exhaled in relief after a mission both dangerous and extraordinary. Looking outside, the small figures of the soldiers dangled beneath the aircraft — men we had just pulled back from the edge of death. I suddenly remembered the training days at Non Nước, practicing rope extraction step by step. I never imagined that today, in the reality of combat, those drills would save lives.
Per the leader’s decision, we landed at the Kilometer 17 base. After landing, all team members were transferred to another helicopter to fly directly back to FOB‑1.
Besides this mission, we also flew an additional liaison mission that day. At 4:00 p.m., the six helicopters departed Phú Bài and flew back to Đà Nẵng — like a flock of birds returning to their nest after a long, exhausting day.
Past Hải Vân Pass, the formation tightened, flying low across the head of Đà Nẵng Airfield, then along the Hàn River. Each aircraft broke off from formation, landed on Taxiway 35, and taxied into the parking area of Squadron 219, ending a day of special operations.
Capt. Vương Văn Ngọ – 63D219





































.png)



.jpeg)



































