Sunday, May 9, 2021

Tôi bay phi vụ hành quân cuối cùng của Không Lực VNCH - Sơn Ca 23 Lê Văn Sùng

Không quân VNCH . Nguyễn Ngọc Trung khóa 64C phi đoàn 116 mất 30 /04 /1975😥😥😥.Tôi bay phi vụ hành quân cuối cùng của Không Lực VNCH
Viết để tưởng nhớ bạn tôi : Cố Thiếu-Tá Nguyễn-Ngọc-Trung và tất cả anh linh Chiến-Sĩ VNCH đã hy sinh vì Tổ-Quốc Việt-Nam.
Lời người viết : Câu chuyện sau đây đã được Nhà văn Nguyễn-Viết-Trường viết lại và đăng trên các Đặc San KQ, vì liên quan đến cái chết của người bạn thân nhất của anh : Đại-úy Nguyễn-Ngọc-Trung khóa 64C, PĐ 116. Trong bài viết, anh Trường có kể lại : ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã dùng Rocket chống biển người để tàn sát địch quân, có quá nhiều người thắc mắc, nhất là Quý Vị đồng nghiệp bay Bà Già như tôi, họ muốn chính tôi phải kể lại vì sao L.19 có thể mang hỏa tiễn chống biển người và diệt địch như Gunship được.
Tôi xin trả lời : “Khi ta không còn biết sợ chết, thì việc gì cũng liều mà làm được hết”.
Hôm nay, ngày 30 tháng 4, tôi xin viết lại phi vụ hành quân cuối cùng của 40 năm trước. Đọc xong bài viết nầy, nếu đọc giả nào muốn biết thêm chi tiết, xin hỏi Thiếu Tá Trần Thủy Lợi (cựu Trưởng Phòng 2 Tiểu Khu Bạc-Liêu, đang ở San Diego) hoặc Đại Úy Tiết (Tiểu Đoàn Phó TĐ 486 Tiểu Khu Sóc Trăng, đang ở Santa Ana).
Tôi xin vào chuyện…
Phi-Đoàn 116, thuộc Không-Đoàn 74 Chiến Thuật, Sư-Đoàn 4 KQ, đồn trú tại phi-trường Trà-Nóc. Phi-Đoàn có hai Phi-Đội hành quân, thay phiên nhau, mỗi Phi-Đội đi biệt phái yểm trợ hành quân cho các SĐ Bộ Binh và các Tiểu-Khu 15 ngày, biệt phái xong 15 ngày, trở về Cần-Thơ túc trực 15 ngày, bay các phi-vụ theo lịnh Phòng Hành-Quân Chiến Cuộc Sư-Đoàn.
NVPH (nhân viên phi hành) trong PĐ 116, nếu có gia-đình ở địa phương nào thì ưu tiên được xin biệt phái về bay nơi ấy.
Đại-Úy Trần Phước Huynh và tôi là rể Bạc-Liêu, riêng Phi Cơ-Trưởng Mã-Tính chánh gốc Công-Tử Bạc-Liêu, nên ba anh em chúng tôi biệt phái trường kỳ nơi xứ Bạc mà tình nồng ấy cho đến ngày mất nước.
Hôm ấy, sáng 30 tháng tư năm 1975, mới 5 giờ 30, điện thoại nhà tôi reo inh ỏi, gọi đi bay sớm là chuyện thường tình ở Tiểu-Khu nầy, tôi nghĩ ngay “Đêm qua chắc mất đồn hay có nơi nào bị tấn công, pháo kích gì đây nên cần đi bay sớm”. Tôi bắt điện thoại, đầu dây không phải là tiếng của Thiếu Tá Lợi (Trưởng Phòng 2 T.K B.L, người thường đi bay hành quân với tôi) như mọi hôm mà là tiếng của Nguyễn-ngọc-Trung, bạn cùng học khóa bay với tôi ở Trung-Tâm Huấn Luyện Nha-Trang, tiếng của Trung Đen hối hả “Ê! Combat (nickname của tôi) lên cứu tụi tao mau, VC tấn công tràn ngập phi-trường rồi, mầy lên chậm tụi tao chết hết, lên liền nghe, chiều nhớ mua mồi về, tao mua bia xuống nhà chú Tư Cầu. (nickname Thiếu Tá Nguyễn-văn-Thành khóa 63D) nhậu nghe, đêm qua tao đại thắng (đêm qua Trung Đen gom sòng xập xám chướng).
Tôi nghe tiếng súng liên thanh nổ vang trong đầu máy liên hợp bên kia đầu dây của Trung, tôi vội đáp : “Yên chí, tao lên liền”. Tôi biết Trung Đen đang biệt phái Sóc Trăng, Phi hành Đoàn ngủ ngay đầu phi đạo, nếu VC chiếm được phi trường thì bạn tôi chết hết.
Tôi chạy vội vào phòng tắm, dùng cái gáo nhựa lớn xối nước lạnh ào ào lên đầu 4,5 gáo cho tỉnh táo, không kịp lau khô, xỏ vội chiếc áo bay và mang áo lưới vào, xách túi đựng helmet, chạy vội xuống lầu, trong túi không phải là nón bay mà là cây súng M79, được cưa bá ngắn lại và mấy mươi viên đạn, mang giày xong tôi dắt xe Honda ra định đi bay một mình, vợ tôi chạy theo hỏi “Không có anh Lợi hay anh Huynh đi bay với anh hả, anh bay đâu sớm quá mà sao chỉ đi một mình vậy?”
Vì vội quá, tôi định cất cánh lên rồi mới báo cho Trung Tâm Hành Quân Tiểu-Khu biết, lúc đó họ không cho tôi đi cũng không được, nhưng khi vợ tôi nhắc đến anh Lợi, tôi chợt nhớ lại, cách đây mấy ngày, Đại-Tá Nguyễn-Ngọc-Điệp Tỉnh Trưởng Bạc-Liêu nói với tôi, nửa đùa nửa thật: “Tôi nghe KQ lấy máy bay đi nhiều lắm, ông phi công đừng bỏ tụi “moa” mà bay đi một mình nhen, “toa” cất cánh mà không có lịnh của “moa”, coi chừng lính phi trường “phơ” “toa”
ó”.
Tôi phải gọi vào Phòng 2 tìm anh Lợi, tôi biết tình hình chiến sự lúc nầy quá căng thẳng nên anh thường ngủ ngay trong phòng làm việc, điện thoại vừa reo anh bắt máy ngay, tôi nói với anh “Tôi phải đi ngay để giải tỏa phi trường Sóc Trăng, cứu phi hành đoàn trên ấy, tụi nó ngủ ngoài phi-trường, nếu VC vào, sẽ giết hết tụi nó”. Anh Lợi đáp:“Ông ra đứng ngoài đường chờ tôi, tôi lại rước ông ngay, tôi sẽ đi bay với ông”. Tôi dặn anh “Anh đừng báo cho ông già biết nghe (ông già là ông Tỉnh-Trưởng kiêm Tiểu-Khu-Trưởng, chúng tôi thường gọi là Papa) khi nào tôi cất cánh xong, anh gọi máy báo Trung Tâm Hành Quân sau”. Tôi vừa đi ra tới đường, xe Jeep của anh cũng vừa tới, tài xế đã nhảy ra ngồi băng sau, nhường tay lái cho tôi như thường lệ. Tôi vừa chạy vừa nói sơ tình hình cho anh biết, anh Lợi rất thân với anh em PĐ 116, anh hỏi ai biệt phái trên ấy, tôi đáp Trung, Hiệp và Phong, anh đều biết hết ba người ấy.
Ra đến phi-trường, trời chưa sáng hẳn, tôi leo lên check xăng, thì không hiểu sao Mã-Tính (phi-cơ trưởng đang biệt phái Bạc-Liêu với chúng tôi) hay tin tôi đi bay, Tính cũng đi Honda ôm ra tới, Tính cùng mấy lính cận vệ của anh Lợi chạy lại mở Conex lấy Rocket nổ định lắp lên dàn phóng như thường lệ (từ sau Hiệp-Định Paris, pháo binh giới hạn một ngày mỗi khẩu chỉ được phép bắn 2 quả, phi tuần khu trục xin để yểm trợ cho Tiểu-Khu thì không bao giờ có, Mỹ đã cắt viện trợ hết rồi, mỗi lần đi bay, tôi thường bảo Tính trang bị 8 trái Rocket nổ cho tôi, mặc dù an phi tuyệt đối cấm, L 19 chỉ được mang Rocket khói để bắn đánh dấu mục tiêu cho khu trục oanh kích thôi, không bao giờ được mang Rocket nổ.
Sau mỗi phi vụ, nếu chưa bắn hết 8 quả Rocket nổ, tôi thường bay đến những đồn Nghĩa-Quân, quanh Thị-Xã, bắn xuống những mục tiêu nghi ngờ là chốt của VC bám để bắn sẻ lính trong đồn (hình thức giải tỏa bom đạn, không cho một ai trong phi đoàn biết là tôi chuyên bắn Rocket nổ) khi nào hành quân chạm địch, tôi bắn hết 8 quả thì về đáp lắp 8 quả khác vào bay lên bắn tiếp. Tại phi-trường Bạc-Liêu, Rocket nổ của Gunship Mỹ bỏ lại, tất cả đã được tháo ra khỏi thùng, dựng đầy trong 4 Conex, đây là loại Rocket nổ rất mạnh, trên đầu nổ có một cái chụp màu trắng ngà, tôi cũng ít khi thấy Gunship VN bắn loại nầy).
Tôi gọi Tính: “Đừng lấy Rocket đó, chờ anh một chút”. Tôi nghĩ ngay đến 6 thùng Rocket của Đại-Tá Điệp, không biết ông đem từ đâu về cất trong conex, ông kêu tôi lại chỉ cho tôi và dặn dò: “Bồ đừng xài cái nầy của tôi nhen, nó là hỏa tiễn chống biển người đó, tôi sẽ gắn dàn phóng Rocket trên xe, tụi nó có tràn ngập vào là tôi xịt trực xạ tụi nó”. Hôm nay địch đã tràn ngập phi trường Sóc Trăng, tôi phải diệt địch và cứu quân bạn, bây giờ tôi không liều mà xử dụng thì đợi đến bao giờ?
Mấy ngày nay, nghe tin tức đài BBC thật là thê thảm, quân ta cứ tiếp tục rút lui, VC đã tràn tới Biên Hòa rồi, hôm trước cụ Hương lại bàn giao chức vụ Tổng-Thống thấy mà nản lòng vô cùng.
Đêm qua trời nóng quá, ngủ không được, tôi lên nằm trên sân thượng, nhìn những ánh đèn phi cơ lũ lượt bay về hướng Côn-Sơn hoặc bay tít trên cao về hướng Tây. Lúc ấy tôi vẫn còn ngây thơ, suy nghĩ rất nông cạn: Mỹ đã bỏ Kampuchia, không lẽ Mỹ bỏ luôn cả miền Nam Việt Nam sao ? Tôi quyết định ở lại chiến đấu đến phút cuối cùng rồi ra sao thì ra.
Tôi bảo Tính khui một thùng Rocket mà Đại-Tá Điệp gọi là “Hoả tiễn chống biển người” thử xem, thùng nầy dẹp và dài hơn thùng Rocket thường, khui ra tôi thấy mỗi thùng chỉ đựng 2 quả, đầu nổ dài và nhỏ hơn đầu nổ của Rocket thường, được sơn màu hồng nhạt chứ không phải màu ô-liu, tôi lấy 2 quả đó, và bảo Tính khui thêm ba thùng nữa đem lại, tôi và Tính gắn 8 quả Rocket ấy vào dàn phóng.
Trời đã tờ mờ sáng, tôi cất cánh vội vã lúc 5:50. Tôi đã dặn Trung trực sẵn tần số FM của máy PRC 25 chờ tôi, cất cánh xong vừa lấy cao độ vừa gọi Trung, anh Lợi cũng mở FM ghế sau liên lạc Tiểu-Khu Bạc Liêu. Vừa nghe tiếng tôi, Trung nói ngay “chúng nó nấp vào các ụ phi cơ phía bên kia, chúng đã chiếm tới đài kiểm báo rồi”. Tôi nói ngay “cho tao số nhà đơn vị đang đánh nhau với chúng nó”. Trung cho tôi tần số của quân bạn, tôi liên lạc ngay được thẩm quyền (Tiểu-Đoàn-Trưởng) của cánh quân ấy, anh cho biết tình trạng chiến đấu của anh rất bi đát, đã mất liên lạc với Tiểu Khu Sóc-Trăng (Ba Xuyên) từ chiều hôm qua, (Tiểu-Khu-Trưởng và Bộ chỉ-huy đã bỏ ra đi rồi), không một lực lượng nào tiếp viện cho anh, địch quân thì đông như kiến cỏ, trong khi quân số anh chỉ còn vào khoảng một râu (1 Đại đội) lớp bị tử trận, lớp bị thương, đạn dược sắp cạn, lính của anh vì thương anh, cùng liều chết ở lại chiến đấu đến giờ phút nầy, không thì đã tan hàng từ lâu rồi. Tôi trấn an anh “Bạn yên tâm đi, 5 phút tôi sẽ tới" (Sóc-Trăng chỉ cách Bạc-Liêu khoảng 40 km đường chim bay). Anh mừng lắm nói “Không ngờ giờ nầy còn có anh bay đến, em út tôi lên tinh thần lắm, bọn VC nầy tuy đông, nhưng toàn là con nít không hà, tại tụi nó núp trong mấy ụ phi cơ, chúng tôi không làm gì được, chớ nếu đánh cận chiến, tụi tôi sẽ bẻ cổ chúng hết”.
Tôi tính toán rất nhanh, VC ở trong các ụ phi cơ phía Đông Nam phi trường, tôi bay thật thấp, cao độ 500 bộ, lấy trục tấn công từ Đông sang Tây, tôi đã bay đến gần, thấy chúng nó quá đông, nấp dài theo ụ phi cơ, đưa lưng về hướng tôi đang bay tới, làm bia cho hỏa tiễn chống biển người, tôi bật công tắc 2 quả: số 1 và số 8, chúi mũi phi cơ xuống thấp nữa, thật gần, nhắm thật chính xác, hồi hộp lẩy cò, hai quả rocket phóng ra, 2 tiếng nổ lớn, hỏa tiễn nổ tung thêm lần nữa, tỏa ra đám khói nhỏ màu hồng nhạt, tôi thấy những thây người nhảy dựng tung lên. Ông Tiểu-Đoàn-Trưởng hét lớn “Trúng phóc rồi, anh phóng pháo bằng loại gì vậy ?” Tôi không trả lời, tôi bắn trúng là vì tôi liều mạng xuống thật thấp, với lại chiếc phi cơ số đuôi 288 nầy là con tàu tôi thích nhất, bắn Rocket rất dễ trúng mục tiêu, nên lần nầy tôi bắn thật chính xác. Tôi đoán chúng đã biết hướng bay của tôi, bây giờ những tên còn sống chắc đã chạy qua hướng Đông dựa lưng vào vách ụ, chong súng chờ tôi bay vào tấn công từ Đông sang Tây như lần trước, thì tôi không bắn được chúng, và sẽ bị chúng từ sau bắn tới phi cơ tôi.
Tôi bay xuống thật thấp vào trong phố Sóc-Trăng, quyết định đổi trục đánh từ Tây sang Đông, tôi vào trục đánh, từ xa, xuống thật thấp tiến lại để địch không thấy tôi bay tới, tôi bật công tắc 2 quả: số 2 và số 7, gần đến mục tiêu, tôi kéo nhẹ cho mũi phi cơ nhô lên, tôi thấy đúng như tôi nghĩ, bọn chúng lưng dựa vào vách ụ, hằng trăm mũi súng đang chĩa về phía tôi, bây giờ tôi đang trực diện chúng, chúng quá bất ngờ vì tôi đổi hướng bay, chúng chưa kịp phản ứng thì tôi đã lẩy cò, hai quả nổ tung, phóng hàng ngàn mũi tên thép chụp xuống chúng như một trận mưa rào, lần nầy không còn chịu đựng nỗi, chúng bỏ phòng tuyến tốc chạy ào về hướng đầu phi đạo phía Nam, quân ta rượt theo bắn giết, đến cuối phi đạo chúng phải lội vượt qua một cái hào khá lớn, mục tiêu quá tốt cho tôi, lần nầy tôi chỉ phóng từng quả một vào đám quân đang bơi thục mạng bên dưới.
Sáng sớm, khi vừa cất cánh, tôi đã gọi Trung Tâm Hành Quân Không Trợ 4 (ASOC 4) xin phi tuần, giờ nầy vẫn chưa cho biết có phi-tuần hay không?
Địch đã tổn thất nặng nề, đang rút lui chạy đen đầu ngoài đám ruộng khô phía Nam phi trường, bây giờ có Gunship hoặc pháo binh thì hay quá, tôi gọi lại ASOC 4, có tiếng trả lời “Sơn Ca 23, bạn hãy chờ!”. Tôi gào thét gọi pháo binh để bắn theo truy kích, anh Tiểu-Đoàn-Trưởng nói với tôi “Sơn Ca, anh đừng gọi nữa, bọn họ đã bỏ đi hết rồi, bây giờ chỉ còn anh trên đó và tôi dưới nầy thôi, khi nào có ghé Sóc-Trăng, gọi vào Hậu Cứ tôi, tôi ra nhậu với mấy anh một bữa cho thật đả, tôi là : Đống Đa, Ủng Hộ, Đống Đa.”
Tôi không còn hỏa tiễn để bắn, tôi bay đuổi theo địch để anh Lợi ngồi ghế sau bắn M79 xuống, còn tôi điều chỉnh mấy khẩu súng cối cơ hữu của tiểu đoàn bắn theo tới tấp. Phi vụ hành quân yểm trợ quân bạn hôm nay hy hữu vô cùng, phi cơ quan sát của chúng tôi không bao giờ trang bị vũ khí, vũ khí của chúng tôi là gọi pháo binh bắn, hay hướng dẫn oanh tạc cơ thả bom, bây giờ khản cổ xin oanh tạc cơ mà chẳng thấy ai trả lời, còn pháo binh thì đã “Thế lên đường hết rồi”. Tôi không ngờ đây là phi vụ hành quân cuối cùng trong đời binh nghiệp của tôi, sau nầy tôi mới biết rõ và hãnh diện: Tôi đã bay phi vụ hành quân cuối cùng của Không Lực VNCH.
Tôi hướng dẫn quân bạn truy đuổi, lục soát, thu chiến lợi phẩm và đếm gom xác chết, tôi tiếp tục điều chỉnh súng cối bắn theo địch.
Lúc ấy, nhìn đồng hồ tôi đã bay hơn 4 tiếng rồi, tôi gọi Trung “Tao về đáp đổ xăng, lắp rocket lên bắn tiếp, tụi mầy đừng cất cánh vội, tụi nó còn chém vè xung quanh phi trường nhiều lắm”. Trên đường bay về, tôi tiếp tục điều chỉnh súng cối bắn, thì VC vào tần số FM của tôi đang liên lạc với quân bạn, gọi tôi “Sơn Ca, Dương văn Minh đã tuyên bố đầu hàng rồi, sao anh còn bắn chúng tôi hoài vậy ?”Anh Lợi thét lên “Mầy đừng nói láo, Dương văn Minh đầu hàng thì tao tự sát”. Chúng nó chẳng thèm trả lời, mà đưa ống liên hợp của máy FM vào gần máy thu thanh, để cho chúng tôi nghe được lịnh kêu gọi buông súng tại chỗ của Tổng-Thống.
Tôi kêu lớn 1 tiếng “Trời ơi” tay đấm mạnh liên hồi vào cửa sổ phi cơ, bàng hoàng tưởng như trong giấc chiêm bao.
Tôi về đáp Bạc-Liêu đổ đầy xăng, lắp 4 hỏa tiễn chống biển người còn lại và 4 Rocket đầu nổ mạnh vào dàn phóng, tôi chạy về nhà, còn anh Lợi chạy thẳng vào Trung Tâm hành quân để gặp Đại-Tá Tiểu-khu-Trưởng.
Tôi vừa bước vào nhà thì Thiếu Tá Giang-kim-Hà (Sĩ quan liên lạc KQ tại Tiểu khu Bạc-Liêu) cũng vừa đến tìm tôi, anh nóí “Trên Vĩnh-Long, Tướng Hoàng-văn-Lạc của SĐ 9 chưa chịu đầu hàng, mình lên thử xem, tôi có người bác làm An Ninh Quân Đội trên đó”.
Tôi quyết định sẽ bay lên Vĩnh-Long để cùng chiến đấu với SĐ 9.
Tôi và anh Hà ăn vài chén cơm vội vã, tôi bảo vợ tôi lấy cho ít tiền bỏ túi, anh Hà cũng không có sẵn tiền đem theo, vợ tôi lấy cho anh mượn 5.000$.
Vừa cất cánh xong, tôi gọi Trung ở tầng số FM, không thấy Trung trả lời, tôi vào tầng số Paddy, gọi xem có bạn nào trên tầng số không? Có vài bạn PĐ 116 và PĐ 122 liên lạc với tôi, tôi báo cho họ biết SĐ 9 còn tiếp tục chiến đấu, tôi sẽ lên đáp tại Vĩnh-Long (VL).
Trên đường bay lên VL, tôi đã bắn hết 8 quả Rocket vào những mục tiêu nào, chỉ có duy nhất Thiếu Tá Hà biết. Tôi đáp xuống VL, lần lượt 6 chiếc khác theo tôi đáp xuống, có một bạn nào đó của PĐ 122 báo cho tôi biết, anh ta từ phi trường Long Xuyên bay qua, phi trường Long Xuyên bây giờ hỗn độn lắm vì nhiều phi cơ từ Trà Nóc lên đáp đổ xăng, 1 chiếc của phi đoàn 122 rớt xuống ở đầu phi đạo, hoa-tiêu là Trung-Úy Thân chết tại chỗ, Quan-sát-Viên là Đại-Úy Trương công Tấn, gãy xương sống, được anh em lôi ra khỏi phi cơ còn nằm trên đó không biết có chết không? (anh Tấn không chết, và anh sống vất vưởng cuộc đời tàn phế 40 năm rồi, hiện nay anh còn bán thuốc lá lẻ ở VN) phi đoàn 116 của anh thì tôi thấy Lý hữu Hiệp từ Sóc Trăng bay lên đáp trên ấy, Đại-Úy Trung ngồi ghế sau đã bị VC bắn chết trên phi cơ. Trời ơi, một tin khủng khiếp cho tôi mà anh ta kể rất bình thường, tôi chụp vai anh ta hỏi “Trung chết thật sao, ông có thấy xác Trung không?”
Anh ta đáp: “Tôi không thấy, nhưng Lý Hữu Hiệp nói anh ta vừa cất cánh ở ST, thì VC ngoài Quốc lộ bắn anh bằng đại liên, anh nghe phi cơ bị trúng đạn, khi đã lên cao, anh gọi Trung, không nghe Trung trả lời, anh quay lại nhìn thấy đầu Trung đã nghẻo sang một bên, Trung đã chết ngay trên phi cơ, Hiệp kể lập cập cho chúng tôi nghe mà mặt mày xanh dờn, còn khiếp đảm lắm”!
Trung đã chết vào giờ thứ 25 của cuộc chiến đau thương, bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ…
Chiều hôm ấy, Ông Tướng của SĐ 9 cũng phải ra lịnh buông súng. Bọn nước lớn đã ký giấy khai tử VNCH thì chúng ta làm gì hơn… “Lực bất tòng tâm, thôi đành trôi theo vận nước”.
Vị Tiểu-Đoàn-Tưởng “Đống-Đa, Ủng-Hộ, Đống-Đa” sau nầy tôi được biết là Đại-Úy Võ-Văn-Đốt, TĐT Tiểu-Đoàn lừng danh 486 của Tiểu-Khu Ba-Xuyên, anh bị phe chiến thắng mang anh từ trại cải tạo về Sóc-Trăng, xử tử anh để trả thù trận đánh sau cùng ấy.
Tiểu-Đoàn-Phó là Đại-Úy Tiết, đang sinh sống tại Santa Ana, trong một ngày nào đó trên đất Mỹ, vô tình gặp lại anh Lợi và tôi trong một tiệc cưới, kể lại cho chúng tôi nghe tầm sát hại của hỏa tiễn chống biển người, khi Rocket tôi bắn ra, anh ở dưới đất nghe như một trận mưa rào thật lớn, từ trên chụp xuống hàng ngàn mũi tên thép, dài độ 6,7 phân, sau đuôi có 4 cánh nhỏ, mãnh lực có thể xuyên cả áo giáp, địch ngã ra chết như rạ.
Còn chúng tôi ở lại phi trường VL, sáng 1 tháng 5, VC vào tiếp thu phi trường, chúng tôi bị giữ lại và sau đó chúng đưa chúng tôi vào khám lớn Vĩnh-Long.
Cuộc đời tù đày của tôi bắt đầu từ 1 tháng 5 năm 1975…
Sơn Ca 23. Lê Văn Sùng
__________
Ghi chú :
Tôi tìm hiểu về loại Rocket chống biển người mà tôi đã bắn ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi được hai người bạn am hiểu cho tôi biết :
1. Nguyễn-thế-Qui (bay khu-trục) anh cho biết, thỉnh thoảng anh cũng được trang bị Rocket đó, dùng khi căn cứ bạn bị tràn ngập, đó là loại vũ khí sát thương hàng loạt vì bị phía bên kia phản bác, nên Mỹ ít dùng, mỗi quả khoảng 1.200 mũi tên thép, bắn thẳng góc 90 độ sẽ xuyên qua áo giáp.
2. Nguyễn anh Tuấn (bay trực thăng) anh cho biết : Đó là Rocket M255 A1/MK 66, chứa 1.179 mũi tên thép có đuôi, chống biển người, đầu nổ M255 A1, Rocket Motor 66, đường kính 2.75 inches (70 mm) nặng 30 lbs.

Tuesday, April 6, 2021

Wings and a prayer - Vietnamese pilot’s escape before the fall of Saigon By Ngoc Huynh | nhuynh@nyup.com

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham holds his first born daughter Phi Van while kneeling in front of a C-130 in Da Lat, Vietnam, in 1974.Courtesy of Khiem Pham

2,865
shares

You don’t just steal a C-130 military transport plane. For starters, they’re heavily guarded. Then, there is the matter of fuel. You need a crew. You need a plan. You don’t just climb in and fly away. You don’t just steal a C-130.

The old pilot smiles. The face is weathered, cracked from 73 years, but the eyes retain a glimmer of youth. At times, he closes them to recall the spring of 1975, when the world - long before viruses and lockdowns – went crazy.

Did it really happen? Was it nearly a half-century ago that he stole a C-130 transport plane and flew from a collapsing South Vietnam to safety in Singapore?

Yes, it happened. And yes it was that long ago.

“I got lucky,” he says with a smile. “God also watched over me.”

In April of 1975, with the Vietnam War raging to a bloody end, South Vietnamese Air Force Lt. Khiem Quang Pham had one chance – one – to save his family and himself. What resulted remains an incredible combination of luck, faith and perhaps divine intervention – a once-in-a-million set of moves that allowed Pham and 52 family members to escape South Vietnam. To this day, that unlikely journey is remembered regularly in the once-far-off place called America.

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham stole this Lockheed C-130 aircraft and flew to Singapore with 52 family members on April 3, 1975. He visited the plane once again on April 3, 2020, and met Don Wilson, a member of the committee raising funds for the Vietnam Veterans Memorial at the National Warplane Museum in Geneseo, NY.Courtesy of Khiem Pham

Pham’s plane – now on display at the National Warplane Museum in Geneseo, N.Y. – is part of a new memorial for Vietnam veterans, including some of the bravest of all – those who came from South Vietnam.

Earlier this month, he visited the plane in Geneseo. It was their fourth reunion. For the past 45 years, he kept tabs on her wherever she went. Pham said he’s happy that she is retiring at the museum.

Here is his story of a last shot at survival and how he flew himself and his family to safety aboard a stolen C-130 military transport plane.

Khiem Pham stole C-130 plane.

The Pham family photo in Nha Trang, Vietnam, in 1961. Khiem, age 14, stood next to his oldest sister at the top left. He came from a family of 10 siblings.Courtesy of Khiem Pham

Pandemonium

The son of a Protestant Christian pastor, Pham grew up with four brothers and five sisters, each of the boys serving in the South Vietnamese military. Three, including Pham, flew Air Force planes. As U.S. troops steadily withdrew from Vietnam in 1973, Pham’s fate grew increasingly desperate. The North Vietnamese Army was roaring into the South, unable to be stopped. Once the North took over, Pham’s family would be killed or sent to reeducation camps for torture. With each passing day, as each new city fell to the Communists, Pham prayed for answers. But his chances looked bleak.

The last remaining American combat troops pulled out of Vietnam on March 29, 1973. The signed peace treaty failed as Southern and Northern forces continued fighting for another two years. In March of 1975, Communist forces had swept through the South taking the central highlands. As part of the 435th Squadron, Pham flew some of the final missions to Da Nang, including one on the night before that city fell. It didn’t go well. The plan to drop off food and evacuate refugees fell into chaos. People trampled over each other, rushing to board the plane. As Pham taxied out, his loadmaster could not close the rear ramp; it was jammed with terrorized, desperate people, refusing to let go.

Pham’s C-130 – built to carry 92 – lifted off with an estimated 350 refugees. They stood shoulder to shoulder, no seats, clinging to line cables that ran the length of the cabin. As the plane rose, Pham foresaw the chaotic end. He thought of his own family in Saigon and wondered how he could save them.

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham's original flight suit during his escape to Singapore.Courtesy of Khiem Pham

By now, other pilots were whispering about getting out. To discourage escape flights, Vietnamese Air Force officials had begun strictly rationing fuel. Planes received only enough fuel to reach the assigned destinations and back.

One of Pham’s best friends, Major Canh Huu Nguyen, flew for the 437th Squadron. They discussed escaping via a stolen plane. But the stakes were high: If one pilot tried, authorities would crack down hard to stop others. They had one chance. “If we are not number one to escape, we will never be number two,” Pham told his friend. They had to go – now.

April 3, 1975: The Great Escape

For two days, Pham and Nguyen had secretly discussed logistics. To get out safely, they had to make sure no one else knew of their plans. Any breach would destroy their chances. The Communists had reached Da Lat, leaving Nguyen unable to contact his family. Pham believed the only way to keep the secret was to tell no one - even his family - until the last minute.

That day, at the Saigon airport, Pham and Nguyen awaited regular assignments. Pham’s mission was listed first on the docket – the worst scheduling possible, because it meant he could not tell his family to pack and prepare. Pham told his superiors he felt ill. They dropped him to last on the day list. That bought time to go home, find his brother and gather all relatives at his parent’s house. From there, they would drive to Long Thanh airport, an abandoned U.S. air base about 17 miles southeast of Saigon. For better or worse, they were going: Today. There was no Plan B.

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham stands in front of the C-130 in Vietnam.Courtesy of Khiem Pham

Pham returned to the airfield and feigned business as usual. By 3 p.m., he had not been assigned a plane. Without a mission, the escape plan was dead. The wait became agonizing. Finally, Nguyen called with news: He’d been ordered to fly a food supply mission to Phan Rang. But, since they were in different squadrons, they couldn’t fly together. Luckily, Nguyen’s plane had mechanical problems so they had to borrow a plane from Pham’s squadron. Next obstacle - getting rid of Nguyen’s co-pilot. Fortunately, the fella wanted to go on a date and was thrilled to switch places with Pham without telling the higher-ups! Pham sped home and told his family the time had come: They would escape or die trying.

Serendipity

Pham had one great fear -- that the plane wouldn’t have enough fuel for an escape.

In the cockpit, when he flipped the master switch to check the gauge, Pham’s heart leapt: A full tank! How could this be? Planes never carried full tanks. Then a line crewman apologized: While fueling the aircraft, he’d taken a cigarette break and overfilled it. He begged the pilots not to tell anyone. He’d go to jail. Pham said not to worry – he wouldn’t say a word.

Around 4 p.m., their plane lifted off. The other crew members – a flight engineer and two loadmasters – had no clue about Pham’s plan, until the aircraft landed at Long Thanh. There, after the crew unloaded 20,000 pounds of rice, Pham’s 52 family members came aboard. Pham told his stunned crew that the plane was not returning to Saigon. They’d be leaving the country. They could come with him or stay. One loadmaster left the plane. And then everything went crazy.

As Pham taxied onto the runway, a military jeep pulled into view. The loadmaster on the ground ran toward it, shouting and gesturing to the South Vietnamese Army soldiers that the plane was being stolen. The jeep pulled up close, and a soldier aimed an M-79 grenade launcher directly at Pham’s cockpit. It was a standoff, terrifying the pilots, crew and passengers. In that moment, Pham made the most important split-second decision in his life. Believing they would not fire on a plane full of people, Pham headed toward the runway, pressing the engines to full speed. The wheels lifted, and the plane left the soldiers in their jeep, holding their fire. He had guessed correctly.

Pham headed eastward out to sea, flying just above the tree-line to avoid radar detection. When he reached the ocean, he flew for an hour barely above the waves, then climbed to 16,000 feet – setting a course for Singapore. When Pham announced they had reached international waters, cheers erupted throughout the plane. But nobody knew what lay ahead.

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham as a young pilot age 27 flew a C-130 plane during one of many missions in Vietnam in 1974.Courtesy of Khiem Pham

Confusion

They touched down in Singapore around 7 p.m., in darkness and a steady rain. Pham told everyone to stay on the plane until they’d surrendered to the authorities. Pham, his brother, and Nguyen changed into civilian clothing and entered the terminal, looking for police. They found one security guard on duty. They explained the situation: They were South Vietnamese refugees seeking asylum. The guard looked dumbfounded. The office is closed, he told them. They should come back in the morning.

Pham said they needed to speak with the authorities. The guard searched for his boss, who was nowhere to be found. Around 1 a.m. – six hours after the landing – police trucks suddenly surrounded the plane. Another standoff loomed. There, Pham surrendered and asked for political asylum. The response: The Singapore Prime Minister was out of the country for two weeks. Meanwhile, police had contacted the Vietnamese Consulate.

Pham repeated to the Vietnamese official his request for asylum. He had no answer and left them at the airport with no comment. Local officials didn’t know what to do. Pham suggested they give him enough fuel to fly to Australia. The costs for such fuel would be around $5,000. The passengers passed the hat, collecting $400 and a few gold watches, rings, and jewelry. It didn’t matter. The authorities only accepted U.S. currency: Cash.

Khiem Pham stole C-130 plane.

On April 23, 1975, the Interior Minister of Singapore and his staff paid a visit to Pham's family and brought trays of gifts wrapped with candy, pastries, and champagne. Courtesy of Khiem Pham

Singapore Jail

Over the next few days, the family stayed in a cramped airport jail. They slept on floors and ate bland, tasteless food. At one point, Pham saw a Vietnamese C-130 land and anticipated the worst: It had come to take them back to Vietnam. Turned out, the plane was there for maintenance. And then, on Day Three, something happened. Their jailer said he could buy fresh food from the local markets, and the women could cook meals in the jail’s kitchen. Suddenly, the guards treated them kindly, with renewed respect.

Each night, the family prayed and sang Christian hymns. The chief jailer, also Christian, personally bonded with them. On the 19th day of their captivity, a boat arrived. They were taken to an island resort – no explanation given. The next day, the Interior Minister and eight others brought gifts of candy, pastries, and champagne. “On behalf of the Singapore government, we would like to apologize for keeping you guys in jail for 19 days,” Pham recalls the Minister saying. “If anyone mistreated you, let me know.”

Next morning, the Singapore military took them back to the airport. There, they received first-class seating on a flight to Guam. Soon after, they boarded another plane for new lives in the U.S.

Many years later, Pham learned why they received the red-carpet treatment. An American pastor by the name of Richard Pendell – a former director of the Work Relief Commission for relief operations in South Vietnam and a close family friend – had heard about the family’s escape through sources in Saigon. He’d sent $20,000 to a trusted lawyer in Singapore with a message: “By any price, you fight and make sure they don’t get sent back to Vietnam.” Pendell also sent $10,000 to make sure Pham’s family ate well during their incarceration.

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham reunited with Richard Pendell in the United States in 1970. Courtesy of Khiem Pham

Remembrance

This year marks the 45th anniversary of the fall of Saigon – April 30, 1975, a bittersweet date in U.S. and Vietnamese history.

Pham lives in Dayton, Ohio. He has three children and nine grandchildren. He has worked all his life.

“I was a gas boy,” he says of his career in America. “I started from the bottom. I cleaned the toilets, took out the trash, and pumped gas in a small airplane. I made $2.10 per hour at the time.”

Pham became a fueler, flight instructor, flight engineer and a pilot. He retired in 2006 as a pilot from US Airways with a total of 18,000 air flight hours.

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham retired in 2006 as a pilot from US Airways with a total of 18,000 air flight hours.Courtesy of Khiem Pham

Pham’s old C-130 was taken over by the U.S. Air Force. During a routine check, a former Air Force officer working for the Federal Aviation Administration recognized Pham and knew of his incredible story – the stuff of legend. As a result, Pham was reunited for the first time with the ‘borrowed’ C-130 in Detroit on April 23, 1985.

Last year, the Smithsonian donated the plane to the National Warplane Museum. Nicknamed the Saigon Lady, it is currently being restored and will be painted with the proper South Vietnamese Air Force markings. The estimated cost for the restoration is $250,000, to be raised with a raffle, scheduled for May 2.

Four times, Pham has visited the plane, whom he views as an old friend. He looks forward to seeing it restored to its youthful luster.

“It makes me so proud of the South Vietnamese Air Force,” he said. “I have a good life. I got lucky.”

Khiem Pham stole C-130 plane.

The Pham family photo in 1991 in the United States. Everyone stood or sat in the exact same positions as the 1961 family portrait in Vietnam. Khiem (top left) and all his brothers served in the South Vietnamese military. Three, including Khiem, flew Air Force planes. Courtesy of Khiem Pham

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham, his wife, three children, and nine grandchildren during a previous Christmas.Courtesy of Khiem Pham

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham attended the language school at Lackland Air Force Base in Texas as a VNAF air cadet in November 1969. He received his basic pilot training at Randolph AFB and later at Keesler AFB.Courtesy of Khiem Pham

Khiem Pham stole C-130 plane.

Khiem Pham as a young air force pilot in South Vietnam in 1974 kneels by the C-130 at Tan Son Nhat Airport in Saigon.Courtesy of Khiem Pham

 

Saturday, April 3, 2021

Thân gởi quý anh em trong Không-Đoàn 53.

Nhân mùa Covid, tôi xin được gởi đến quý anh  em  một số bài viết của tôi về những kỹ-niệm thời bay bổng bên Việt-nam và bên Mỹ.Có rảnh đọc chơi cho qua thì giờ. Chắc một số quý anh em đã có đọc qua rồi (20 năm trước) Nếu đã đọc rồi cứ tự tiện delete. Nếu có thì giờ xin vui lòng đọc lại cho vui.

Tiện đây tôi cũng xin update về chiếc C-130 HCF mà tôi và Th/t Cảnh đã mang ra khỏi VN “bất hợp pháp” chiều ngày thứ năm 3 tây tháng 4 năm 1975. Tức là ngày hôm nay 3/4  của 46 năm về trước.! E-mail này tôi không cố ý để thanh-minh hay bào chữa chuyện gì cả, nhưng tiện đây có thể làm sáng tỏ vài vấn đề mà dù các bạn rất thân của tôi bao năm qua cũng ngại ngùng không dám hỏi ! Quý anh em có tin hay không thì đã 46 năm rồi mọi việc trắng đen đã rõ như câu nói của Đ/u Tô-tiến-Đạt qua đây hay nói “ Dĩ Dãn Dễ Dì Dấu Diếm ! “

Ngoài những bài viết, thì tôi đính kèm theo đây vài hình ảnh của chiếc C-130A HCF-460 xưa và nay:

1-Hình 1 tôi chụp chiếc HCF-460 ở Đà-Nẵng tháng 4/1974.

2-Hình 2,3,4.. Chiếc này đang được sơn phết lại 100% VNAF tại một bảo-tàng-viện nhỏ tại New York (Phía đông thác Niagara 70 miles và Buffalo city 35 miles) Sẽ sơn giống như lúc đã bay ra khỏi VN. khi bảo-tàng-viện Smithsonian chọn chiếc này vì là chiếc máy bay đầu tiên đi tìm tự do khi chiến tranh chấm dứt. Ông Robert Mikesh tác giả của cuốn sách Flying Dragon viết về KQVN, cũng là giám đốc Smithsonian cho tôi biết FBI và chính-phủ Singapor xác nhận rằng, sau khi khám xét và điều tra thì chiếc 460 này khi bay ra khỏi VN, không có mang theo vàng bạc tài sản gì đáng giá , ngoại trừ một số nữ trang cá-nhân của 56 hành-khách trị giá Khoảng # 1,000$ Dollars. (một ngàn) Nên chiếc này có “Clean Record” mới được chọn vào bảo-tàng-viện. Có lẽ mùa hè năm nay sẽ khánh thành, sẽ có airshow và 1 chiếc C-130 của USAF đến đậu kế bên. Con gái của Đ/u Trị là cảnh-sát, cô chịu trách nhi lo giử an-ninh trật-tự tại phi trường này hằng năm khi có Airshow.

Tất cả 12 chiếc C-130A của VNAF( trong đó có vài chiếc kẹt bên Hongkong, Taipei và Sinagpor vì đang làm tổng kiểm IRAN) khi được mang về Mỹ bay cho USAF hay National Guard đều được thay 4 cánh-quạt. Lý do 3 cánh quạt xưa dùng electric để control cánh quạt dễ hư hỏng và khó bảo-trì. 4 cánh quạt mới dùng Hydraulic control khó hư hỏng, dễ bào trì và công xuất thêm 5% SHP (Shaft Horse Power) nhưng bay chậm hơn 5kts vì sức cản của 4 blades ! Hiện nay bên Mỹ có 2 chiếc C-130A của VNAF được chưng bày, chiếc HCM-518 của Đ/u Minh Điên bay qua Utapao, được chưng bày trước cổng của trung tâm huấn luyện C-130 căn cứ Không-quân Little Rock Arkansas, nhưng không có sơn cờ và phù hiệu VNAF. Chiếc HCF-460 thì sẽ sơn 100/100 VNAF và 4 động cơ cũng được gắn lại 3 cánh quạt nguyên thủy.

3-Copy bản-tin của báo VietMercury tại San Jose như điếu văn từ trần của tài-phiệt Lý-long-Thân tại Cali mà ai cũng đồn rằng tụi tôi chở Ba tàu chợ lớn ăn tiềng, trong đó có tỷ-phú Lý-long-Thân.

Ai nói tôi “ăn-cắp máy bay C-130” thì tôi nhận, nhưng nói tôi chở Ba-tàu ăn tiền thì tôi 100% bằng mọi giá phải chứng minh là không bao giờ có chuyện đó!

4-Copy sự vụ-lệnh của Đ/t Bùi Hữu Thế cùng phi-hành-đoàn sẽ bay qua Singapor “dẫn độ” 56 công dân Việt-nam xuất-cảnh bất hợp pháp! Sau này khi qua Mỹ thì Thủ-tướng Khiêm ( Không phải TT Khiêm hay ký tên trong e-mail) nói với bà chị Hai của tôi biết là, giờ chót phủ-thủ-tướng hủy bỏ chuyến dẫn độ, vì họ nói mình đã mất 1 chiếc C-130, giờ mà phái đoàn này qua rồi ở lại bên đó luôn, có phải mình sẽ mất thêm 1 chiếc C-130 và một số sỹ-quan nửa!!

Chuyện bây giờ mới kể: Noel 1975, tại San Diego. Trong lễ giáng-sinh do Muc-Sư Nguyễn-hữu-Tươi. Tuyên úy Không-Quân Tin-lành tổ chức. Đại-tá Bùi-hữu-Thế đã đến bắt tay và nói lời cám ơn tôi, ông nói nhờ anh mà tôi khi ra khỏi Việt-nam có một số tiền 200 Dollar mang theo. Anh nghĩ coi, gia đình tôi đông con, cũng không khá giả gì, hồi đi đâu có tài sản gì để mà mang theo, may mà phi-vụ hủy bỏ rồi 29/4 chạy loạn, mang được gia đình và số tiền 200$ lảnh để qua Singapor dẫn độ mấy anh về….( Nếu ổng giàu thì cám ơn tôi làm gì về số tiền 200$ này?).

5- Mấy hình trắng-đen do ba tôi chụp tại Singapore chiều ngày 23/4/75. Tụi tôi bị tạm giam tại trung tâm cai-nghiện 19 ngày vì nhập cảnh bất hợp pháp, họ mang đi dấu tất cả báo-chí và truyền hình. Trung tâm này xa thành-phố singapor khoảng 2 giờ lái xe, ngày 22/4/75 họ  chuyển tụi tôi bằng du thuyền qua 1 hòn đảo như là resort center, tại đây được ngủ phòng giường nệm của  5 stars Hotel.(mười mấy ngày kia thì họ phát mỗi người 1 chiếc chiếu và ngủ dưới đất)

Chiều ngày 23/4 có phái đoàn của bộ Nội-Vụ Singapore  đến thăm viếng và ủy lạo, phái đoàn khoảng 8 người cùng ông bộ trưởng Bộ nội-vụ đến, họ mang theo 4 khay bánh kẹo, trái cây gói trong giấy đỏ như những khay đi đám cưới và 1 thùng 12 chai Champaign !

Sau khi bị tạm giam 19 ngày và bây giờ được bộ nội-vụ đến thăm cho quà, và một điều mà ai nấy đều ngạc nhiên và rất cảm động khi nghe ông Tổng-trưởng bộ Nội-vụ nói lời xin-lỗi với tất cả đám “di dân bất hợp pháp” 56 người (Không có một chú chệt hay thiếm xẫm nào trong đám hành khách này). Ông nói tiếng Anh, chị Hai tôi thông dịch ra tiếng Việt: rất tiếc là chúng tôi  đã giam giử quý vị gần 3 tuần qua, nếu trong thời giang đó có ai trong trại cai-nghiện đã không đối đãi tử tế với quý vị , thì xin quí vị tha lỗi cho họ và chúng tôi ! Thật là chuyện tréo cẵng ngổng ! Đáng lẽ tụi tôi phải xin lỗi chính-phủ Singapor mới phải, đàng này họ lại đi xin-lỗi mình ?. Thật sự trong thời giang ở trại cai-nghiện họ đối đãi rất  ư là tử tế thân-thiện quá sự suy đoán của tụi tôi. Ông cai tù thì nói rất tiếc tôi không thể cho quý vị đọc báo hay nghe radio…nhưng ngày nào ông cũng tới báo cáo tình hình VN như dinh độc-lập bị dội bom, như Tổng-thống Thiệu đã rời Sài gòn qua Taipei v.v… Mỗi ngày có bác sỹ vào khám 2 lần, có nha-sỹ nhổ răng” không đau” cho Thiếu úy lộc. (Yes chuyện có thật 100/100. Ông nha sỹ Ấn-độ đã nhỗ lộn răng cho Th/u Lộc!!!)

Chuyện bây giờ mới kể: về Th/u Lộc (lùn) cơ-phi; sau khi cất cánh từ Long-Thành và sau 45 phút bay sát mặt biển, tôi check bản đồ và Doppler thấy đã ra tới hải phận quốc tế, nên tôi nói Th/t Cảnh bay lên 15 ngàn bộ, bình phi được 1 tý thì Th/u Lộc gát chân phải lên thành ghế, tôi nhìn xuống thấy trong túi áo bay chân phải lòi ra cái bản đồ. Tôi hỏi Th/u Lộc sao anh là cơ-phi mà lại có bản đồ bay ? Anh cho tôi xem được không? Th/u Lộc rút đưa tôi xem, tôi thấy có 1 lằng gạch màu Đỏ từ TSN direct to Singapore ! Chưa kịp hỏi thì Th/u Lộc đã “thành thật khai báo” như  vầy: Thú thiệt với Tr/u nghen, tôi và Th/t Nhựt cũng đang tính như Tr/u đang làm đây, từ khi cất cánh tới giờ tôi không hay biết và nghi ngờ chuyện gì cả, chỉ thấy hơi thắc mắc sao mà Tr/u 435 mà lại bay co-pilot 437 vậy thôi, chừng Tr/u nói trong intercom là chiếc này sẽ không trở về TSN, ai muốn đi với chúng tôi thì ở lại, ai không muốn thì xin rời phi-cơ ngay bây giờ!!. Th/u Lộc đã rút dây head set rời ghế cơ-phi đi được 2 bước thì quay trở lại gắn headset vô và nói tôi đi với anh. ( Cũng giây phút đó Th/s Sâu cũng rút headset và chạy lại cái xe jeep của lực- lượng đặt-biệt , mới xuất hiện để xem chuyện gì và đậu phía xa xa khoảng 100 thước bên trái sau phi-cơ, với tiếng ồn ào của 4 máy thì không tài nào mà Th/s Sâu có thể nghe được tiếng anh em con cháu của gia đình tôi gọi nhau mà đoán được là tiếng tàu ! Như đã có dặn ở nhà rồi là hể thấy hàng xuống là chạy thẳng vô phi-cơ, nên cũng chả ai kêu réo tiếng nào cả.) Th/u Lộc nói nảy giờ tôi thấy anh làm chuyện này quá hay, chớ so như tôi và Th/t Nhựt bàn tính chắc là đã thất bại rồi. ( Thiếu úy cơ-phi Đoàn-Văn-Lộc đã mất năm 2012 tại Dallas) Riêng về cái áo bay của tôi và Th/u Lộc đã thất lạc tại Singapore và 35 năm sau được trả lại thì chuyện cũng hơi ly kỳ và dài dòng…cả 2 áo bay của tôi và Th/u Lộc cùng cuốn check list của tôi và các cuốn approach nay đang trưng bày trên bảo tàng viện nơi chiếc C-130A đang nằm . ( Th/t cảnh đi bay chuyến đó chỉ có mỗi 1 cái headset và 1 túi quần áo nhỏ mà thôi.)

Tụi tôi bị tạm giam ở Singapore 21 ngày, thì được đưa lên Boeing 707 của hảng Pan Amm Airlines bay ra khỏi Singapore. Từ bến tàu tất cả được đưa lên xe bít bùng có xe cảnh-sát mở còi hụ chở ra phi-trường. Riêng má và chị Hai tôi cùng bà xã tôi thì được ông Tổng Trưởng nội-vụ hôm kia đến thăm, ông nói chắc quí vi chưa biết Singapore nên ông mời lên xe riêng của ổng lái 1 vòng cho biết thành phố Singapore, má tôi nói đã đến Singapore khi giáo-hội Tin-lành gởi đi họp 1 lần rồi…còn chị hai và bà xã tôi thì chưa biết, vì vậy nên khi 4 xe bít bùng tới chân cầu thang của chiếc 707 thì má tôi cùng chị Hai và bà xã tôi đến sau 20 phút.

E-mail đã quá dài, tôi viết lại với tất cả công-tâm và lòng thành thật của tôi, mong có thể giải tỏa phần nào thắc mắc của quý anh em, nếu ai có muốn biết thêm về bất cứ vấn đề gì, tôi sẳn sàng giải đáp, hoặc qua e-mail hoặc qua cel.phone 937-361-8311.

Chúc tất cả quý anh em và gia đình một mùa Phục-sinh vui vẻ.

Happy Easter

TT Khiêm












 

Friday, March 12, 2021

Vui Buồn Đời bay bổng (II) - LT Phạm Khiêm

“…. Mặc dù trong các phi-vụ hàng tuần tôi vẫn gặp nhiều chuyện ly-kỳ nhưng không tiện”diết” ra đây… Đành xin hẹn kỳ khác vậy, nếu bịnh làm biếng của tôi không tái phát.!” (tháng 10/97).
Để mở đầu bài viết này, tôi tạm mượn phần kết của bài “Vui buồn đời bay bay bổng I” tôi đã viết đúng 10 năm trước đã được đăng trong báo Lý-tưởng Không-quân phát hành tháng 2 năm 1998…
Tuy rằng bịnh làm biếng vẫn còn day dưa trong người, tôi chỉ xin ráng cố gắng viết lại ba cái chuyện xe cán chó, chó cán xe, chuyện trên trời dưới đất đã xảy ra cho tôi trong suốt cuộc đời bay bổng của mình, dĩ nhiên là nhiều chuyện xãy ra trong đời phi-công 20 năm lái phản-lực chở hành khách dân sự, 3 năm làm tài xế Boeing-727 cho hảng Cargo UPS và 5 năm lái máy bay 2 động cơ, cộng 1 năm làm huấn luyện viên Pilot cho hảng Cessna bên Mỹ này, nhiều hơn là hồi bay trong VNAF chỉ có 4 năm 4 tháng.!
**********
Tôi gặp (cố) Đại-tá Đặng duy Lạc trong đêm Không Gian tại Houston tháng 11 năm 1995 và lần đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp ông! Những lần trước gặp ổng thì chỉ chào hỏi qua loa và hỏi thăm về ông anh lớn của tôi sao không bao giờ thấy anh tôi bên Cali về đây dự Đêm Không Gian ?
Kỳ này thì ông đứng nói chuyện lâu hơn, tôi nhớ ông nói : mấy bài của mày viết tao đọc thích lắm, mà mày nhớ là ráng viết về những người bạn mình thì rất quí còn viết nhiều về mình thì đôi khi làm cho người đọc tưởng mình tự cao, tự đại hoặc khoe khoang… tao biết mày gốc Nam kỳ có gì mày nói nấy nên tao chỉ góp ý cho mày nghe vậy thôi. Ráng viết nhiều nửa nghen, mấy bài mày viết về chuyện bay bổng của mày làm tao cũng nhớ bay lắm..! Lần đó có rất nhiều anh em Pilot của các phi-đoàn A-37 ngoài Nha-trang/Phan-Rang cùng mời ông Lạc chụp hình chung với họ, ổng nói với tôi là tụi nó về đông quá tao hỏng biết mặt mũi của mấy thằng nhỏ sau này. Nhiều anh em trẻ bên A-37 đứng gần nghe ổng nói chuyện mà xưng tao và gọi tôi bằng mày thì họ cũng hơi thắc mắc, bởi vì rất ít người biết tôi, sao tự nhiêu bửa nay thấy tôi đâu lạ hoắc tới dự mà lại nghe ông Đ/t Lạc gọi tôi bằng mày và xưng tao rất là thân mật ?
Tôi biết Đ/t Lạc lúc ông còn là Đ/u. Phi-đoàn trưởng 524, thuở đó tôi còn học trung học đệ nhứt cấp trường Kỹ Thuật Nha-trang gần Cầu Đá, ông anh lớn của tôi là Th/u “Minh Sói” khóa 63D là thuộc cấp của Đ/u Lạc (Bạn bè đặt cho tên
cúng cơm vì anh tôi hơi sói đầu), bay trong phi-đoàn A-1 Skyraider này, cuối năm 1967 khi đi học A-37 khóa đầu tiên thì anh tôi cũng đi chung với Th/t Lạc. Hơn nửa Đ/t Lạc lúc ở Nha-Trang cũng biết anh tôi là con của ông Mục-sư làm giáo-sư ở trường Thần Học Tin-Lành bên Hòn Chồng nên ổng cũng có phần cảm mến anh tôi vì nếp sông đạo đạo đức của anh.(Cũng vì vậy mà các VNAF ngoài Nha-trang có khi gọi chọc anh tôi là Mục-sư Tuyên úy).Vì tình thầy trò nên khi Đ/t Lạc lên làm Không-đoàn-Trưởng KĐ 62 thì ông kéo anh tôi lên làm Trưởng phòng huấn-luyện của không đoàn 62. Còn tôi chỉ là phận tép riêu em út nên có phần ké vô trỏng vậy thôi. Bây giờ ngồi đây viết lại ba chuyện “dui buồn” này mà kiếm người khác bạn mình để viết thì cũng hơi khó, vì nó chỉ xãy ra hay do chính tôi chứng kiến, còn KQ mình bên cánh quạt (fixwing) đâu có bao nhiêu người qua đây còn đi bay lại ? ( 2 ông già kia thì cũng đã retired mấy năm trước rồi). Ngoại trừ hiện nay trong VNAF chỉ còn lại đúng 3 anh em còn trẻ bên A-37 là các cựu Th/u VNAF “Trẻ” (Mấy trự này cũng đều đã trên 5.5+ bó rồi!) như Th/uNguyễn-Châu-Phòng (Khóa 72A) Captain bay MD-11F cho UPS, Lê-Hưng (Khóa 72) Captain bay phản-lực Hawker cho 1 công ty tư nhân bên vùng Ấn-Độ và Nguyễn- chu-Mon Captain bay phản-lực Challenger tư cho một nhà băng lớn bên Oklahoma, vài năm nữa thì 3 anh em này cũng sẽ giống như tôi. Tôi viết vậy bởi vì thế hệ “trẻ” (baby boomer nay chỉ trước sau 1,2 năm thì đã ôm 6 bó rồi) của tôi coi vậy mà đã hết thời rồi, cuối tháng 12/2006 tôi cũng đã chính thức “ rì tai” bên Airlines sau 20 năm bay cho hảng US Airways .
Theo luật định hiện hành của chính phủ thì tất cả các Airline Pilot (chở hành khách hay cargo) đúng 11:59 phút EST của ngày sinh nhật 60 bắt buột phải retire! Theo luật mới thì Pilot sẽ retire ở tuổi 65 nhưng đến năm 2009 mới áp dụng; Nếu hảng nào còn xữ dụng các loại phản lực cũ như Boeing 727 hay 747-200 cần Flight Engineer (Cơ-Phi) thì các Pilot này có thể xin xuống (down grade) làm một cơ-phi nếu có chỗ trống và không bị giới hạn bởi hạn tuổi 60/65 nếu vị Pilot/Cơ-phi này vẫn hội đủ điều kiện sức khỏe. Lương hướng bị cắt giảm rất nhiều nhưng khoảng thâm niên với hảng vẫn tiếp tục cho đến khi vị Cơ-Phi/Pilot “Già” này chịu retire…
Dù biết 3 ông đàn em kia vẫn còn đi bay và mấy ỗng có riêng mấy chuyện dui buồn của mấy ổng tui đâu có biết được để mà viết về mấy ổng? Thôi thì tôi đành phải viết mấy chuyện dui buồn của đời bay bổng của mình vậy.! Nếu tôi có vô tình hay cố ý khoe khoang về tôi nhiều quá trong diễn đàn này và thỉnh thoảng cũng cả gan dám mang chính sách của “Xã hội chũ nghĩa = Xạo hết chỗ nói” xía dzô, thì xin quí đọc giả nên xem như một chuyện “bình-thường” dùm.
Trong một con số ít ỏi của vài Pilot cựu VNAF bay trong ngành hàng không bên Mỹ, xem như chỉ có một mình tôi hay viết lách khoe khoang đủ thứ chuyện, tốt cũng khoe mà xấu cũng khoe tuốt luốt… Múa gậy rừng hoang mà không sợ bị ai cùng “môn phái” phê bình, hay sửa lưng cho nên cứ ngon trớn viết tào lao, chỉ sợ quí đọc giả nghỉ là tôi thích “Nổ” quá trớn làm mất đi danh tiếng của một thời vang bóng.!. Thôi thì nay trong bụng còn dư vài ba viên pháo “Chuột”, tôi đem ra nổ luôn một lần cho thỏa mãn tự ái cá nhân của mình.!
Những chuyện trời đất tôi viết kể sau đây, chuyện bay hồi còn bên VN, chuyện bay bên Mỹ…thứ tự thời gian có thể sẽ không như ý muốn, tôi nhớ đâu viết đó.
Mấy bạn bè thân thiết của tôi nghe tôi kể chuyện bay bỗng bên xứ Mỹ này nên tụi nó xúi tôi viết bài kể cho thiên hạ nghe chơi cho dzui, chết chóc ai đâu mà sợ. Thật ra tôi không sợ ai hết chỉ ngại là mình kể dỡ quá không thiên hạ nào thèm đọc thì có.
****
Ai cũng tưởng làm Captain Airline thì chắc có nhiều quyền hạn! Thưa quí đọc giả, tôi ngồi vô phòng lái đóng cửa lại lo làm phận sự của mình, chuyện gì cũng phải thi hành đúng theo sách vở, bao nhiêu chuyện rắc rối nhỏ nhặc phía sau khoan hành khách thì đã có mấy cô tiếp-viên giải quyết, chừng nào mấy cổ bó tay rồi thì mới gọi lên phòng lái hỏi phải làm sao đây?. Trên phi-cơ vấn đề giao tế nhân sự phần lớn do cô tiếp-viên trưởng nhóm giải quyết, mấy cô này có nghiệp đoàn riêng, nên có những chuyện mà tụi tôi không nhúng tay vô được, thấy mấy bả cười cười vậy đó.. nhưng lâu lâu về đến nhà thì bị văn phòng của “Chief Pilot” gọi phone hỏi thăm thì cũng hơi phiền, hồi mới vô hảng tôi cứ nghe mấy bà già thâm niên kể cho tụi tôi nghe về mấy ông Captain già khó tính, mấy bả nói:” Mấy thằng Captain cứ tưởng tụi nó là “ông trời”. (They think they are God..!) thật ra là mấy bả muốn dằn mặt tụi tôi trước để sau này có lên cấp thì liệu hồn. Ai làm phận sự nấy, đụng vô mấy cô này phiền nhiễu lắm.
Hồi trước thì thỉnh thoảng có nhân viên an-ninh hàng- không “chìm” (air-marshall) đi theo, sau vụ 911 thì số an ninh chìm đi theo thường xuyên hơn trên các chặn đường bay dài, mấy ông này cũng có thể ra tay khi cần, khi lên máy bay thì mấy ổng đưa thẻ và giấy tờ trình cho tụi tôi biết ông ngồi ghế số mấy, thường thì hay ngồi phí sau cùng để dễ quan sát. Captain thì chẳng có quyền đuổi ai xuống khỏi máy bay hay cho phép ai đi, chỉ trừ ra các Pilot hay nhân viên FAA của chính phủ xin quá giang, hay khi phía sau ghế hành khách không còn chỗ trống cho mấy vị này.
Bên mình hồi đó ai làm tới chức Trưởng Phi-cơ thì coi mình như ông trời con, như Vua một cõi và quyền hạn thì “Dzô biên”… và có khi cũng hơi “dzô diên”!
Hồi năm 1974 tôi thường bay ra đảo Côn-Sơn một tháng 2 lần, trong số hành khách tôi để ý có 2 vợ chồng thường dân bay đi bay về rất thường xuyên, tò mò nên một hôm tôi hỏi ông chồng là ông bà làm gì ngoài này mà tôi thấy sao siêng năng đi ra đây thường quá? Được ông ấy trả lời là:”tôi làm thư-ký của tòa tỉnh Gia-định nên phải ra đây lo ba cái giấy tờ cho tỉnh, vì Đảo Côn-Sơn này nền hành-chánh trực thuộc tỉnh Gia-định nên vợ chồng tôi được biệt phái ra làm việc ở đây, Thiếu úy nghĩ coi ai mà muốn đóng đô dài hạn ở đảo này !” À, thì đi một ngày học được một sàng khôn, hiểu thêm chút đỉnh về cơ cấu hành chánh của xứ mình. Rồi cũng
trong phi-vụ Tân sơn nhứt-Côn Sơn -Tân sơn Nhứt này vị trưởng phi-cơ khả ái của tôi là ông Đ/u Tô tiến Đạt có hỗn danh là Đạt “Ống nhổ” (khóa 65A cùng khóa với Trần-thế-Vinh và Lý-Tống). Năm 1987-89 tôi thường bay ghé phi-trường Orlando 2,3 lần mổi tuần, tôi vẫn thường gọi phone thăm (cố) Chuẫn-tướng Phan-Phụng-Tiên có đến nhà thăm và ăn cơm với ông Tướng vài lần, và thăm các đàn anh anh Đ/u Đạt, anh Th/t Vinh Ốm anh Đ/uTâm Già, anh Đ/u Thuyên.
Hôm đó tôi gọi phone tính tán dóc với anh Đạt thì gặp ông già dzợ của anh Đạt bắt phone, ông cũng là Mục-sư nên tôi phải ăn nói lễ phép, ông trả lời với một giọng trung kỳ 100/100 ông nói:
- Cái thèn Đoạt bửa ni hén đi công toác ở chỗ mô nớ, chiều ni hén mới về, rồi ông cũng hỏi thăm về ba má tôi bên Cali, một hồi lâu nói đũ thứ chuyện thì không biết trong câu chuyện có gì mà ông nói:
- Chu choa cái thèn Đọat nhòa tui hén nóa dữ lém! Không uai nóa lại vơí hắn mô !. Rồi sẵn đó tôi hỏi bác biết hồi xưa trong KQ người ta gọi anh Đạt là gì không? Người ta đặc cho ảnh cái tên cúng cơm là Đạt ống nhổ, tôi nghe trong đầu dây bên kia ông nói:
- Chu choa ưa mà đẹt cho hén cái tên chi nghe ót (ác) sao mà ót dữ rứa vậy con !?.
Ông Đ/u Đạt này thì tuy mặt mày trông lúc nào cũng nghiêm nghị trông bặm trợn và kỹ luật lắm, hồi xưa ổng làm phụ tá sỹ-quan hành quân của phi-đoàn, mấy ông Th/u mới về phi đoàn, ông nào ông nấy sợ ổng như sợ cọp, thấy ổng là tụi nó né ra một bên, nhưng thật ra ổng đối xữ đàng hoàng và rất tốt bụng với các đàn em, dòm thấy mặt ổng ngầu vậy chớ một hồi rồi cũng cười hề hề, nói chuyện thường hay pha trò và có tài chọc quê thiên hạ vui lắm.. Nhứt là vô mấy cái đám cưới quen, ổng hết chọc quê cô dâu chú rễ mỗi khi đi ngang qua bàn, rồi đến chọc quê ông bà bố mẹ của cả hai bên, vui còn hơn là MC chính nửa! .Tôi biết rõ vì ổng thường cắt tôi bay chung với ổng. Chị ruột của ổng là vợ của Tr/T Lâm Quang Thi nên mỗi lần mang bà lớn đi đi về
về từ vùng I, những lần đi bay như vầy thì tôi hay né đi chỗ khác để khỏi phải chào kính mặt trời.
Những năm trước thì đi dự Đêm Không gian bên Houston tôi vẫn thường thấy ổng đi 2 người nên ổng ít diễu một tý thôi vì có “Bà” đi bên cạnh, dạo sau này không biết cái rờ mọt của ổng bị xẹp bánh nằm trên xa lộ nào mà bay giờ chỉ thấy ổng đi có một mình, mỗi lần thấy bạn cũ thì ông này hay cười cười diễu giỡn 1 câu lục bát bằng giọng bắc kỳ chữ dê (d) mà tôi nhớ hoài :
“ Dĩ dãng dễ dì dấu diếm” .!
Hồi xưa bên nhà thì còn nể nang vì quyền uy, cấp bực, sợ bị “đì”. Qua đây phương tiện truyền thông quá tân tiến nên hồi xưa, hay hồi nay có chuyện gì bí mật nay bị bật mí hết nên “dấu diếm” cái monkey gì được.!
Sau khi đáp Côn Sơn tôi ra ngoài xem thiên hạ xuống khỏi phi-cơ và xem hành khách mới, trở về Sài gòn, trong đám hành khách này có một thằng bé khoảng 12 tuổi, trên tay nó ôm một con khỉ con rất nhỏ ngồi lọt trong lòng bàn tay, tôi lại gần chìa tay vuốt ve con khỉ con này trông rất dễ thương, nó cũng làm cho tôi nhớ lại hồi học lớp đệ lục tại Nha trang tôi đã từng nuôi một chú khỉ nhỏ như con khỉ này, sau này khỉ con lớn lên tôi bắt gặp nó trèo qua nhà hàng xóm, leo vô chuồng gà đang ấp ăn cắp trứng gà ôm chạy về, tôi phải đem cho người bạn ở ngoài Xóm Bóng, vì sợ lâu ngày bị vạ lây.
Đến giờ hành khách sắp hàng lên phi-cơ, đi bằng cửa trước của C-130 cho dễ kiểm soát, vì lý do an ninh nên các cửa sau đều đóng lại. Khoảng chừng 20 hành khách về Sài gòn trong đó có thằng bé 12 tuổi này đang tươi cười hí hửng ôm con khỉ bước lên phi-cơ thì Ngài Trưởng Phi-cơ khả ái của tôi chỉ vào con khỉ nhỏ nói: con khỉ này ở lại, nó không có tên trong danh sách manifest thì không được đi …
Mặt thằng nhỏ đang hí ha hí hững ôm con khỉ leo lên cầu thang máy bay đột nhiên trở thành buồn xo, trông thấy mà tội nghiệp. Bị một ông Đ/u trưởng phi-cơ lái một chiếc máy bay vỹ-đại phán một câu ra lửa, hỏi thằng con nít nào mà không khiếp vía! Nó nhìn dáo dát tìm cách giải quyết vụ con khỉ này vì nó không biết phải giao lại cho ai đây. Ba má nó bước lên phi-cơ trước nó lo tìm chỗ ngồi nên không biết chuyện thằng bé đang gặp vụ rắc rối này. Nó lên sau ba má nó vì phải đợi kêu tên theo thứ tự ABC. Người trưởng trạm thì chỉ biết đứng nhe răng cười, cuối cùng thì nó chạy lại đàng hàng rào kẽm gai cột đại con khỉ con vô đó xong chạy trở lại bước lên máy bay tìm chổ của bá má nó.
Sau khi cất cánh ở Côn-sơn về lại Sài gòn, giửa đường tôi hỏi Đ/u Đạt sao ông khó quá vậy ông, tui thấy tội nghiệp thằng nhỏ phải bỏ con khỉ lại.
Ổng trả lời:
- chớ tao cho con khỉ đi, rủi giửa đường nó nổi cơn điên chạy cắn hành khách rồi tao bị ký củ dzô ngồi tù sao mày.?
Nói tới chuyện điên thì tôi nhớ tới 1 phi-vụ bay từ Ban Mê Thuột về Sàigòn, trong phi- vụ-lệnh ghi : Chở 36 thương bệnh binh bị bệnh “tâm trí”. Hồi đó tôi còn bay C-123, vị trưởng phi cơ là Tr/u Phan-văn-Tề (Khóa 66). Ổng nói: ê Khiêm anh lo cho mấy ông lính điên này lên phi-cơ dùm tui, tui chạy vô trong trạm kiếm mua mấy ký Cà Phê Ban-Mê- Thuộc về đặng “biếu” cho ông già dzợ tui .( Rễ KQ có hiếu với ông gìa dzợ như vậy là nhất rồi. )Tôi hỏi ông Đ/u Quân-y đi theo áp tải mấy ông lính này về TSN: Đ/u làm ơn cho ông nào điên nặng nhứt lên phi-cơ trước rồi mấy ông nhẹ nhẹ cho lên sau. Nhìn mấy ông lính này tôi không thấy mấy ổng điên chỗ nào, hay có những hành động gì đáng sợ cả, lâu lâu thì có thấy mấy ông cứ nhe răng cười cười vu vơ, nhìn trời ngó đất. Đáng lẽ vụ này tôi để cho ông áp tãi của tôi làm, nhưng muốn chắc ăn, tôi cột và xiết seat belt thật chặt cho ông điên nặng nhứt vô ghế, lộn ngược mặt trái của mặt seat belt rồi nhét dấu đầu dây bên kia xuống dưới ghế, vì tôi nghĩ già này điên số một nên chắc giả không biết mở seat belt !!?. Rồi tôi bước nhanh ra đàng sau cửa ramp để nói họ đem ông thứ hai lên tàu, tôi vừa đứng ngay cửa ramp chưa kịp nói “cho ông thứ nhì lên đi”, thì tôi cảm thấy có cái gì ấm ấm phía sau lưng, quay lại thì thấy ông điên số 1 mà tôi mới cột vô ghế đã đứng ngay sau lưng tôi rồi! Ổng nhìn tôi nhe răng cười, rồi tôi nghe ổng nói: Th/u sao đẹp chai quá Th/u? Cái đám lính”điên” đang đứng sắp hàng sau đuôi máy bay 3,4 mang nghe vậy cũng nói hùa theo với nhiều giọng có âm điệu khác nhau “… ừa phải dồi Th/u đẹp chai wá…”. Hai ông áp tãi đứng đó nghe bụm miệng cười nắt nẻ. Thú thật với quí đọc giả, phi-cơ còn nằm dưới đất mà hồn vía tôi lúc đó chưa đầy 1 giây đã cất cánh tới 9,10 ngàn bộ rồi! Rốt cục rồi tụi tôi cũng đã chở mấy ông lính điên này về tới TSN an toàn. Đến đầu năm 1973 thì tôi đã chuyển sang bay C-130, trong những phi-vụ trao trả tù binh theo hiệp định Paris bay từ Biên-Hòa sang phi-trường Lộc Ninh, trước đó mấy ngày thì (cố) Tr/t Nguyễn-Tấn-Châu (tức Châu Do-thái) đã đáp để thám sát an-phi cho phi-trường Lộc Ninh xem thử có an toàn cho C-130 Đáp hay không. Khi về tôi nghe ổng nói bên KQ mình ra lịnh là không có được ăn uống bất cứ thứ gì của tụi VC mang ra đải, bên bộ binh thấy mấy giả ngồi ăn đồ của tụi nó dọn ra tỉnh queo, nào chôm chôm, nào sầu riêng… còn phi hành đoàn mình thì ngồi dưới cánh máy bay khui mấy hộp ration “C” đồ của đế wuốc ra ăn.!
Tôi không biết những toán tù binh VC này từ đâu tới, hay từ Phú-quốc đưa về đây bằng tiện nào? Tôi chỉ thấy từng toán 60 người ngồi xếp hàng trên thềm xi-măng tại khu cargo phía đông phi-trường Biên-hòa. Tất cả đều mặc bộ áo tù màu nâu do chính-phủ cấp phát, và ngoài ra mỗi một người còn được phát cho một bộ quần áo mới cũng màu nâu, một ổ bánh mì lớn và một gói đường nhỏ. 4 chiếc C-130 của VNAF thay phiên nhau chuyên chở các toán này. Trong khi chờ đợi tôi quan sát thấy nếu trong toán đó không ai nói gì thì họ sắp hàng lên máy bay mang theo đầy đủ 3 thứ đó. Còn có toán thì khi đứng dậy họ bỏ lại bộ quần áo nhưng
đen theo ổ bánh mì và gói đường, rồi có toán chỉ mang theo gói đường nhưng bỏ lại bộ quần áo và ổ bánh mì, và có toán đứng dậy bỏ lại tất cả, chắc đây là những thứ gộc nên không xữ dụng bất cứ thứ gì của chính-quyền “Mỹ Ngụy”.
Tôi bay các phi-vụ này được 3 ngày, mỗi ngày cất cánh và đáp Lộc-ninh 3 lần. Ngày đầu tôi bay với Th/t Khưu Thái Bình ( Khóa 63) trên chiếc C-130 của Phi-đoàn 435 có số đuôi 518 và 3 chữ sơn trắng bên trên lá cờ Việt Nam là chữ HCM (danh số thuật ngữ của phi đoàn 435 bắt đầu bằng chữ HC.. rồi theo thứ tự Alfa Beta như HCA, HCB… và đến chiếc thứ 16 cuối cùng là HCP, nên HCM nằm lọt
trong đám chữ này, còn bên phi đoàn 437 thì bắt đầu bằng 2 chử GZ..).Vì vậy khi ngày đầu tụi tôi đáp ở Lộc Ninh thì mấy chú Vẹm loại gộc ra phi-trường đón tụi tôi, chỗ trại tiếp tân là cái terminal cũ, chỉ có mái che không có tường hay phòng ốc gì cả, ngoài mấy cái bàn của ban liên-hợp 4 bên ngồi để dưới trại cách chỗ phi-hành-đoàn ngồi nghỉ chờ đợi khoảng 10 thước. Tụi này phải chờ để sau khi ban liên hợp hỏi từng người ai muốn về với “Mặt trận giải phóng “ thì bước sang bên kia, ai muốn về với Chính-phủ quốc-gia thì bước sang bên này làm giấy tờ rồi trở lại máy bay để tụi tôi chở về Biên-Hòa. Trong lúc ngồi chờ đợi thì tôi nghe có mấy ông vẹm chỉ lên chữ HCM của đuôi máy bay nói : Tên của cụ Hồ chí Minh đấy mấy đồng chí ơi ! Tôi đứng phía trong nhà chờ đợi la lớn: Không phãi vậy đâu mấy ông ơi, 3 chữ đó là “ Hôi Cứt Mèo “! Mấy anh đừng có phịa hồ chí gì rồi la ó chi cho mệt!. Th/t Bình ngó tôi cười, coi bô thằng co-pilot của ông nói một câu nghe được, ổng nháy nháy mắt nói: ê bộ Th/u Khiêm không sợ mấy thằng VC này làm thịt hả?.Trong trạm chờ thì cũng có mấy phi-hành đoàn trực- thăng của VNAF bay cho ban liên-hợp nếu tôi không lầm (?) ! . Có một ông già VC ngồi đó mời tụi tôi uống nước trà, ông người miền Nam nên tôi nghe ông nói: “ Mời mấy Thầy dùng nước trà”, tôi không nhớ thằng áp tải hay cơ phi gì của tôi nó nói:-mà nước trà này mấy ông bỏ thuốc độc dô, ông dụ tụi tui uống vào chết dại hết sao?. Ông già vẫn ngồi điềm nhiên, mặt lạnh như tiềng. Một lúc sau tôi lại nghe ổng nói:
- mấy Thầy biết không, ở đây không có cái gì của Mỹ hết ! Tôi nghe ông Đ/u trực-thăng người Bắc tôi không nhớ tên, ổng liền lên tiếng, dường như ông này là sỹ-quan chiến tranh chính-trị của phi-đoàn nên tôi nghe ổng phát ngôn có nét lắm:
-Thôi đi cụ ạ !Hả cái mồn ra là tuyên truyền! Rồi ổng chỉ ra phi-đạo bằng vỹ-sắt nói :
- Cái vỹ sắt của phi-trường này là của Đảng và Bác làm chắc ?. Còn cái đinh đóng ở cái trạm này cũng cũng của Đảng làm ra luôn?. Tôi nói cho bác nghe nhá; cái vỹ sắt kia là của Mỹ, cái đinh đóng vô cái terminal này, cái mái nhà này cũng là của Mỹ nốt! Chỉ có cái mồm thối của bác là không phải của Mỹ thôi.(tui nhớ 99% nguyên văn)
Phi-trường Lộc-ninh này hồi xưa là căn cứ của Bộ-binh Mỹ, cái terminal do hảng thầu RMK xây nên vẫn còn tốt, đầu năm 1971 khi tôi mới về nước, được huấn luyện trên C-123K chung với USAF, tôi đã đáp ở phi-trường Lộc-Ninh này được 4 lần, nay 2 năm sau lại được trở lại phi-trường này trên VNAF C-130. Tôi quan sát trong cái bọn cán binh VC chạy tới lui lo trật tự hay làm “do thám” đọc tên tuổi của đám pilots ngụy này, trên ngực tên nào cũng có mang ảnh tượng nhỏ bằng đồng của mister Hồ, đứa nào không có thì tôi thấy mấy giả xõ hình trắng đen của cụ Hồ cở hình thẻ kiểm tra vô kim băng rồi mang trên ngực ra điều hãnh diện lắm.
Chở vô Lộc-Ninh thì 60 tù binh mỗi chuyến nhưng chở về thì rất ít, khi toán hồi-chánh về lại Biên-hòa thì có nhóm người bên khối Dân-vận Chiêu Hồi ra đón tiếp với các vòng hoa, biểu ngữ như “Hoan nghênh các bạn đã trở về với chính nghĩa quốc gia”.v.v..
Buổi chiều hôm sau khi chờ tới phiên bay chuyến thứ 3 trong ngày tại Biên-Hòa tôi thấy có khoảng 2 xe GMC chở một nhóm người rất trẻ khoảng 4,5 chục mạng, phía nữ mặc đồ bà ba trắng, nam cũng mặc áo sơ mi trắng, khi toán này xếp hàng ngồi ngay ngắn, có một người đi tới đi lui để ra lệnh hay đốc thúc trật tự cho nhóm, tôi tò mò bước đến gần đễ hỏi xem nhóm người này là ai, thì được một người bạn cùng khóa quân sự với tôi 9 tuần Quang-Trung, ông này bây giờ là Tr/u Quân-pháp nói đây là nhóm sinh-viên, học sinh chuyên môn đi biểu tình, phá rối trị an và họ tự cho họ là “Thành phần thứ ba” có cảm tình hay thân cộng nên bị bắt và giờ thì đòi lên Lộc-Ninh để giải quyết và bày tỏ lập- trường của họ. Người trưởng toán của đám này khi tôi tiến lại gần đọc được bản tên gắn trên ngực áo bằng plastic, khắc trên nền xanh lợt chữ trắng : Vũ Ngọc Nhạ. Chắc một số quí đọc giả còn nhớ, tên này làm cố vấn an-ninh cho Tổng- Thống Thiệu, sau bị lộ ra là của Cộng sản gài vào tận Phủ Tổng-thống và còn được làm cố vấn an ninh cho phía quốc gia. (năm 2005 tôi có xem được tờ báo nào đó trên internet nói là tên Vũ ngọc Nhạ 78 tuổi đã chết !).
Thằng bạn này thấy tôi lái C-130 thì hỏi, mày có con ông cháu cha hay sao mà được bay cái thứ này? À mà sao mày đi lính một lần với tao mà bây giờ vẫn còn mang lon Thiếu úy ?( Tôi chính-thức được lên lon Tr/u tháng 10 năm 1974). Bộ mày ba gai lắm hả ? Tôi nói con ông cháu cha cái con monkey. Tao học xong Pilot bên Mỹ họ hỏi tao muốn chọn bay thứ gì, khóa của tao học là khóa đầu tiên cho hoa-tiêu đi học A-37 sau khi xong huấn luyện bên T-28, tao không muốn lái máy bay nhào lộn nên tao chọn vận-tãi, Không quân có thứ gì cho mình học thì mình bay thứ đó, và hy vọng chính của tao là để được sang bay cho Air Việt Nam sau này. Nó đâu biết là tôi chỉ học quân sự 9 tuần ở Quang Trung rồi sang Thủ đức thêm 4 tuần sau khi gắn Alfa, Không quân lảnh về cho đi học Anh văn rồi du-học Mỹ 1 năm thành Pilot về nhà là ra đi hành quân luôn. Toán đầu tiên 8 thằng co-pilot, 6 tên còn mang Alfa lúc nhận C-123K khi Mỹ chuyễn giao đầu năm 71, đâu có ai bay thế để mà tụi tôi đi học bổ túc quân-sự giai đoạn 2 ? Thành thử bên sư-đoàn cho tụi tui được mang lon Thiếu úy, thẻ căn cước và chứng chỉ tại ngủ ghi Thiếu úy nhưng ăn lương trung-sỹ dài hạn. Hơn hai năm rưởi sau (8/1973) bên sư-đoàn làm báo cáo lên Bộ Tổng Tham Mưu là tụi tôi đã học xong giai đoạn 2 quân sự do sư đoàn tổ chức, mà thực sự từ lúc về nước là đi bay hành quân liên tù tì không có học quân-sự một ngày nào cả. Trong mấy bài viết trước tôi đã có lần nói tôi là loại “ KQ nhảy dù ! Trong đợt Việt Nam hóa: Không-Quân có khoảng 2 đại đội, sau này thành Pilot đủ loại thuộc thành phần dỡm (về quân- sự) như tôi”.
Toán người thuộc “Thành phần thứ ba “ kia gồm một số đông các nữ sinh viên coi bộ “hồ hỡi” lắm . Họ được sắp hàng lên chiếc C-130 của phi-đòan 437 do Th/t Ngô Xuân Nhựt lái. Tôi gặp Th/t Nhựt hỏi sao Th/t chở mấy cô đó tới Lộc-Ninh dzui không ? Th/t Nhựt nói dzui cái con mẹ gì, chưa ai kịp hỏi han gì ai muốn về với phía bên nào là mấy con quỉ này đã ùa chạy về với “nhân dân” cha nó rồi ! Báo hại mấy ông Canada và Nam Dương trong ban liên hợp phải rượt theo lùa đám quỉ này trở lại làm thủ tục.
Ngày cuối cùng tôi bay lên Lộc-Ninh thì thấy một đám con gái mặc quần áo bà ba trắng ngày hôm qua đứng dọc bên kia bờ rào, vừa ngoắt tay khóc mếu máo nói mấy anh ơi cho tụi em về lại Saigòn đi ! Tụi tôi cười nói với nhau, mấy con khỉ này mới về với “nhân dân” có một đêm, chắc tối ngủ bị muỗi Lộc-Ninh cắn quá chịu không nổi hay là nhớ kép “ngụy” nên bửa nay lại đòi về. Có người trong đám tụi tôi chọc quê mấy cô này nói: muốn về Sàigòn thì kêu xe xích lô đạp chở về, tụi này về Biên Hòa thôi, muốn quá giang thì nhảy rào qua đây tui cõng về cho… Tụi tôi chỉ làm nhiện vụ đưa đón, đâu có quyền hạn gì mà cho mấy cô này quá giang khơi khơi về lại Biên Hòa. Hôm qua mấy cô này đã làm giấy cam kết có ký tên là cương quyết trở về với “nhân dân” với sự chứng giám của ban liên hợp 4 bên. Bây giờ có khóc lóc cũng vô ích….
Tôi biết ba cái chuyện này đối với chúng ta hồi đó nó chả là cái thá gì cả, dĩ nhiên là trong số những Pilot C-130 hay Trực thăng đã trực tiếp bay trong các phi-vụ này thì mỗi người đều có cái nhìn khác nhau, bây giờ tôi cố moi óc viết lại không dám thêm bớt hay làm méo mó sự thật, chỉ ráng nhớ lại viết thêm chút mắm muối văn từ để nghe cho vui thôi. Tôi chỉ bay C-123K của VNAF được đúng 2 năm và C-130 đựơc 2 năm 4 tháng nhưng cũng có nhiều kỹ niệm vui buồn đứng tim khác nhau. Mùa hè đỏ lửa năm 1972 chuyện chết sống giống như chuyện giỡi chơi. Tụi tôi bay ra Đà-nẳng 4 chiếc C123K, 2 chiếc của phi-đoàn tôi là 423 và 2 chiếc của phi-đoàn 425 trong phi-cụ tiếp tế tiền đồn Bastone.
Đêm hôm trước tụi tôi và Tr/u Tạ-Huy-Kiệm (khóa 66) bước vô phòng hành quân của sư-đoàn 1 ngoài Đà-nẵng để nghe thuyết trình về tình hình an-ninh trên vùng Bastone, Vị Tr/t. mặc đồ bay xám tên Duệ cho gọi một ông Tr/u L-19 vào thuyết trình cho tụi tôi biết về hỏa lực phòng không của
VC trên vùng đó như thế nào ? Nghe ổng nói mà tụi tôi hết muốn đi bay ngày hôm sau. Ông Đ/u Thức làm phụ tá cho biết thêm là 1 phi-hành đoàn trực-thăng bị bắn cháy, đáp vào hàng rào của đồn Bastone, đã 2 tuần rồi mà bên sư-đoàn vẫn chưa lấy được xác. Cũng vào giờ phút đó tụi tôi nhận được tin 1 chiếc C-123K của phi-đoàn 425 vừa bị bắn rơi ở An Lộc, Phi-hành-đoàn không ai sống sót! ( Hôm sau tôi hay được Th/t. Nguyễn-Thế-Thân là Phi đoàn Trưởng của phi-đoàn 425 bay phi-vụ này, co-pilot là Th/u Quách-Thành-Hải cũng là bạn học cùng khóa Pilot và ở cùng phòng với tôi lúc học C-123K tại Locbourne AFB. Không đoàn 53 trong phi-vụ này còn mất thêm 2 ông Không-Hànhh-Viên kỳ cựu, một người là Đ/u Trọng người Bắc, vị kia là Đ/u Ngân… 2 vị này bay xác định hành quân định kỳ cho nhau, ông Th/s. cơ-phi già tên Hoành, người Bắc rất hiền từ ít nói, học chung khóa I, C-123K với tụi tôi bên Mỹ cũng đền nợ nước, trong hai ông áp tải chỉ có 1 ông sống sót và bị thương nặng đó là Th/s. Diêu-Chính-Thượng, hiện nay ông vẫn còn ở tại Việt Nam. Trong thập niên 60 ông Tr/s. Thượng lúc làm tháp-tùng-tử trên T-28 khi bay với người Mỹ bị trúng phòng không, ông đã nhảy dù sống sót một lần rồi, đây là lần thứ
hai ông sống sót trong một trường hợp quá hiếm hoi khi tử thần tha chết đến 2 lần!.
Ngày hôm sau 4 chiếc C-123K của hai phi-đoàn thay phiên nhau đi thả đồ tiếp tế, phi-hành đoàn tôi đợi ngoài phi-trường để bay ca buổi chiều. Khoảng 10 giờ sáng khi Tr/u Châu Đức Tánh (Khóa 66) của phi-đoàn 425 bay chuyến đầu trở về, khi đến phi-trường Đà-nẵng phải lắc cánh xin đáp vì bị phòng không bắn hư hết hệ thông vô tuyến không liên lạc
được với ai cả, chuyến thứ nhì do Tr/u Hứa hồ Thanh (khóa 66) bay chung với co-pilot là Th/u Mai (Volley). Về đến bến tôi gặp thằng Mai nhảy xuống khỏi tàu, chưa kịp hỏi han gì thì nó đã thả một câu giáo đầu chưởi thề nói “ dzô đó ban ngày mà thấy tụi nó bắn lên như pháo bông…” Phi-cơ lủng bao nhiêu lổ thì tôi không biết, vì loại C-123K thì thân hình mập và chậm chạp như con cá voi, dễ làm mục tiêu cho phòng không. Tôi không biết khoảng thời gian giữa lúc hai chiếc trước thả dù và tới phiên tụi tôi buổi chiều thì các phi- tuần A-37 có lên làm việc ở vùng đó hay không? Vì đến buổi chiều khoảng 3 giờ thì chiếc của Tr/u Kiệm và tôi bay cao độ 3 ngàn bộ vô Bastone theo sau là 1 chiếc C-123K nửa của Phi-đoàn 425 bay cao độ nào tôi không rõ. Tôi hỏi Tr/u Kiệm sao mà bay thấp dữ vậy, ông nói nửa giỡn nửa thiệt “tao
điếc đâu có sợ súng”. Tôi nhìn thấy rõ đồn Bastone trước mặt. (cố)Th/t Trần Văn Triều là Navigator cho lệnh thả sớm hay trể tôi không nhớ nhưng sau khi thả xong 4 pallet hàng Tr/u Kiệm lại cho phi cơ bay lên khoảng 8 ngàn bộ rồi còn bay vòng trên vùng đó gọi chỉ cho chiếc số 2 vô thả. Tôi không còn nhớ nhiều bởi vì lúc đó đầu óc tôi chỉ nghĩ tới phòng không và chỉ chờ để nghe bị trúng đạn. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu tại sao 2 chiếc C-123K vô thả dù buổi chiều, một chiếc bay thật thấp lại không bị trúng một viên phòng không nào cả?! Hay là bọn VC vì quá đói, đã thấy 2 chuyến ban sáng thả thực phẩm, hể không lọt vô được trong đồn thì mấy ỗng lén chui ra lượm, nên để yên cho 2 chiếc buổi chiều, đễ có thêm thực phẩm?. Về đến Đà Nẵng thì được đổ xăng để bay về TSN, chiếc nào cũng mang một số hành khách về Sàigòn, trong số hành khách thì có 2 ông Pilot trực thăng và A-37 bạn của Tr/u Kiệm, tôi nghe mấy ổng đứng nói chuyện với nhau về căn cứ Bastone, khi nghe Tr/u Kiệm nói hồi chiều nay ông bay 3 ngàn bộ vô Bastone thả dù tiếp tế, tôi nghe ông Đ/u trực thăng nói lớn:” trời đất ơi bộ mày điên sao mà bay thấp dữ dzậy, tụi tao bay 6 ngàn bộ vô vùng đó mà còn ngưởi thấy mùi Xác chết !.
Đúng một tuần lễ sau, Tr/u Tạ Huy Kiệm và nguyên phi-hành đoàn chiếc C-123K của phi-đoàn 423 đã đền nợ nước tại Cửa Việt, Quảng trị trong một phi-vụ tiếp tế cho Thủy quân Lục Chiến.
Vài tháng trước khi được chuyển qua huấn luyện trên C-130. Trong một buổi chào cờ sáng thứ Hai tại sân cờ của Sư Đoàn 5 KQ tôi được Đ/t Đinh-Thạch-On Sư đòan phó Sư đoàn 5 KQ gắn lên ngực 1 huy chương anh Dũng bội tinh với có Ngôi sao “Vàng”, còn Đ/u Lê đình Lây (Khóa 20 Đalạt lúc đó chưa lên Th/t) là trưởng phi-cơ của phi-vụ tiếp tế cho một tiền đồn bộ-binh nằm gần biên giới Cam Bốt, thì ổng lại được cùng một huy chương nhưng với ngôi sao “Bạc”. Đó là cái huy chương duy nhất tôi được nhận lãnh trong 4 năm 4 tháng phục-vụ VNAF. Sau này tôi mới biết là tuy cùng một phi-hành-đoàn bay phi-vụ bị bắn, nhưng ông Đ/u trưởng Phi-cơ già dặn đã có nhiều huy-chương quá rồi, trên phòng nhân viên đề nghị ban cho ông co-pilot huy chương có ngôi sao Vàng để khuyến khích tinh-thần… Hai ông áp-tải hôm đó cũng được lảnh huy-chương cùng với ông Th/u Không-hành-viên, còn ông cơ-phi thì được lãnh thêm một chiến thương bội tinh, nhưng được Chuẩn-tướng Tiên, sư-đoàn-trưởng gắn tại giường bệnh của bệnh xá KQ Tân- sơn-nhứt ! Vì ông Tr/s Cơ-phi này đang bị thương nằm điều trị tại đây, hơn nửa Tr/s Cơ-phi Lê quang lại là con trai của Tr/t Hoàng Chánh Văn Phòng Tr/T Minh tư lệnh KQ. Chuyện như thế này, lúc bay phi-vụ tiếp tế vào buổi chiều cho một tiền đồn phía bắc gần biên giới Miên-Việt, theo tin quân báo nói tiền đồn này tuy nằm gần biên giới, nhưng không thấy có nhiều dấu hiệu gì về những hoạt động của địch, chiều hôm đó tụi tôi mang các kiện hàng lương thực và đạn dược như những lần thả dù tiếp tế khác. Lúc trên đường bay đến tiền đồn này, nếu tôi không lầm thì nó nằm về phía bắc giữa Thiện-Ngôn và Tống Lê Chân. Khi bay ngang qua vùng Dầu Tiến thì tụi tôi được lệnh đổi sang tần số FM để liên lạc và làm việc với Họa-Mi 11. Tôi gọi và liên lạc được với Họa-Mi 11 không biết L-19 này của phi-đoàn nào. Đ/u Lây bảo tôi hỏi Họa-Mi xem thử anh chàng này đang ở đâu, vì có khi anh gọi nghe mấy anh chàng này trả lời mà mấy giả đang còn nằm dưới đất cũng có ! Sau khi tôi gọi thì nghe Họa-Mi 11 trả lời là đang bay trên vùng, nên hỏi:
- Còn tình hình an-ninh thì ra sao hả Họa-Mi ? Có phòng- không hay có Sa-7 gì không vậy?
- Yên tỉnh, yên tỉnh mấy anh cứ vô đi.
Tôi và Đ/u Lây cùng ông Tr/s Lê Quang, cơ-phi đều ráng quét mắt nhìn về hướng Bắc để tìm xem có bóng dáng chiếc L-19 nào không.
Tìm mãi cũng không thấy ai trên vùng, lúc đó tụi này từ 7 ngàn bộ đã xuống 3 ngàn bộ, ông Th/u không-hành-viên báo cáo sắp sửa đến mục tiêu, bay vào từ phía nam khoảng chừng 10 dặm tụi tôi đã thấy được cái tiền đồn nhỏ xíu vì chiều hôm đó trời quang đãng.! Theo sách vở khi người Không-hành-viên tính toán và gọi check list thả dù sẽ có những phần như là 10 minutes warning, để các áp tải mở cửa sau và chuẩn bị dao cắt dây cột hàng. Sau đó đến 3 phút rồi 1 phút.v.v..Hể khi nghe đến 3 phút là phi-cơ chui đầu lao xuống với một góc độ đáng kể ( nhưng không thể so sánh được với các khu-trục khi dive bom) Rồi 1 phút warning có nghĩa là phi-cơ phải bình phi ở cao độ để thả hàng, ở đây có nghĩa là 600 bộ cách mặt đất. Tất cả đều yên lặng để nghe ông không-hành-viên gọi 3 seconds warning, Pilot thì có nhiện vụ giữ phi-cơ bình phi, hướng bay và tốc độ đã được ông Navigator cho biết trước, co-pilot tức là tôi phải để ngón tay ngay công tắt bật đèn xanh, hể nghe ông Navigator gọi “green light” là tôi lập tức bật đèn xanh, Th/t Lây sẽ tống ga và kéo đầu phi-cơ ngóc lên như đang bay làm “airshow” Tr/s Quang cơ-phi sẽ phụ bật 2 ga xăng cho 2 máy phản lực đạt tới sức đẩy tối đa (Maximum thrust) Còn 2 vị áp-tải phía sau sẽ cắt 2 dây cột các kiện hàng ở hai bên để cho các kiện hàng nối đuôi nhau tuột ra khỏi thân phi- cơ. Tất cả các động tác này phãi xảy ra cùng một lúc theo như những bài học thả dù mà tất cả phi-hành-đoàn đều đã học và đã từng thực hành nhiều lần. Khoảng chừng 1 giây trước khi nghe ông Navigator bấm máy gọi “ Green light”, tôi nhìn thấy tiền đồn này ngay trươc mặt, lá cờ Việt Nam trên nóc đồn trông thấy rõ….thì một tràng đạn bắn từ đầu mũi đến đuôi phi-cơ, tôi không biết phi-cơ mới bị trúng đạn bằng loại súng gì nhưng tiếng nổ trong phòng lái nghe kỳ- cục và lớn lắm, khói bay mù mịt. Tôi không nhớ ai đã hoảng hốt gọi “green light, green light” đến 2 lần, nhưng tôi cũng đã bật đèn xanh ngay lúc bị trúng đạn. Th/t Lây và Tr/s Quang đều tống ga của 2 máy chong chóng và 2 máy phản- lực tối đa, các kiện hàng cũng đã ra khỏi thân phi-cơ. Th/t Lây quẹo gắt về phía phải và đem phi-cơ vọt lên đến 6 ngàn bộ rồi mới bình-phi. Sau khi bình phi trên đường bay trở về TSN. Đ/u lây bấm máy hỏi 2 ông áp tải phía sau có sao không thì nghe hai ông đều lên tiếng vô-sự và cũng báo cáo là chính giửa sàn tàu lũng nhiều lỗ cách nhau 2 tất và nhìn lên trần thấy mây xanh rõ ràng..trên trển có sao không hả Đ/u ? Đ/u Lây và Tr/s Quang cơ phi, ngồi ngay ở chính giữa cả hai đều quay sang nhìn tôi hỏi anh có sao không ? Tôi lấy tay bóp chân cẳng mình thấy không có gì cả, tôi bấm máy nói tôi OK. Ông Th/u Navigator cũng đứng chính giữa tàu, ngay sau lưng Tr/s Quang cũng bình yên vô sự. Nhưng khi tôi quay nhìn lên Tr/s Quang thì tôi thấy có một dòng máu tươi từ trong headset chảy xuống gò má mà dường như Tr/s Quang không hề hay biết. Tôi nói ê mà dường như anh bị chảy máu, tôi vừa nói vừa chỉ vào cái headset. Tr/s Quang liền đưa tay mặt lên quẹt vào dòng máu nóng đang chảy rồi xòe bàn tay ra nhìn…rồi tôi thấy Tr/s Quang gục ngay trên ghế cơ-phi sau khi thấy máu của mình. Tôi gọi đài kiểm báo Paris báo cáo là trên đường về trên phi-cơ bị trúng đạn nhiều chỗ và có người bị thương, yêu cầu báo cáo lại cho bên không-đoàn biết và xin đài kiểm soát cho tụi này vào đáp khẩn cấp xin xe cứu thương chờ dưới đất. Sau khi vào đáp ở phi-đạo 25L (trái) của TSN, phi-cơ chỉ vừa khỏi rời đường bay chính vào đường di chuyển (taxi way) thì khựng lại vì 1 bánh trước bị trúng đạn nên bị mất hơi hồi nào không hay. Xe cứu thương và cứu hỏa bao quanh chiếc phi-cơ C-123 bị nạn. Phi-hành-đoàn đi xe của không-đoàn ra đón gần cuối đầu phi-đạo, còn Tr/s Quang thì xe cứu thương mang về bệnh xá. Vài tháng sau Tr/s Quang bình phục đi bay lại và sau này cũng học thành cơ-phi của C-130 và ở cùng phi-đoàn 435 với tôi. Tr/s Quang nói là các Bác sỹ KQ của mình và Mỹ đều nói là mảnh đạn hay viên đạn vẫn nằm trong đầu sau lỗ tai bên phải, họ không cần mỗ lấy ra….Khoảng năm
1987/88 tôi có bắt liên lạc được với Tr/s Quang bên Dallas, và trong cuộc điện đàm tôi nghe ông đối thoại dường như không được “Friendly bình thường” như hồi trước . Không biết có phải do ảnh hưởng của viên đạn còn nằm trong đầu ông này không.. rồi tôi cũng mất luôn tông tích của Tr/s Quang từ dạo đó…
******
Trong những tháng cuối của năm 1974 tôi có bay một phi-vụ Test thả bom trên C-130. Nếu tôi nhớ không lầm thì đó là tháng 10/74, tôi bay với Th/t Nguyễn-Chánh-Mỹ người Huế. Di chuyển chiếc C-130 từ bến đậu sang Hot Cargo của phi-trường TSN khoảng 9 giờ sáng, bên quân cụ cho các chuyên viên sang gắn một thanh kim loại chính giửa sàn tàu, chiều cao khoảng 2 tất, chạy suốt từ đầu đến cuối và thêm một phần rời nửa trên cửa ramp. Mục đích là khi load mấy pallet đựng mấy trái bom vào sàn tàu, sau khi thả thì các pallet này sẽ chạy thẳng ra sau đuôi phi-cơ và không lệch hướng hay bị vướng kẹt vào thân tàu, như vậy sẽ đạt được độ chính xác. Hôm đó được mấy quan lớn thuyết trình tại Hot Cargo rằng, hôm nay các anh sẽ mang 16 trái bom thật, trên mỗi pallet sẽ để 4 trái bom, 2 pallet đầu sẽ có 8 trái không gắn đầu nổ, 2 pallet kế gồm 8 trái bom có gắn đầu nổ, mấy anh em áp tải cẩn thận
dùm nghen ! Đài BOB (beacon on bombing?) tại Biên Hòa sẽ dẫn mấy anh thả thử trên vùng Long-Thành, mấy anh sẽ bay cao-độ 24 ngàn bộ, tụi tôi sẽ bay trực thăng quan sát ở 6 ngàn bộ quanh mục tiêu thả. Mấy anh thả vòng đầu 8 trái bom không gắn ngòi nổ để tụi tôi xem khi đụng đất , bụi cát văng lên , tụi tôi sẽ xà xuống kiễm chứng xem độ chính xác như thế nào, nếu không thấy được thì lượt bay nhì mấy anh sẽ thả bom có đầu nổ. Bay phi-vụ ngắn này xong là tôi được về nhà nghỉ, nhưng cái mà tôi không thích trong những phi-vụ đánh thả hỏa công, là vì phải đội nón helmet có gắn Oxygen mask, trước khi mở cửa và bay trên cao-độ 24 ngàn bộ nên không quen, sau khi ông không-hành-viên là Th/t. Nguyễn-Bá-Luân (tức ông cả Tẹm) tính xong gió mái ở cao độ và hướng bay, gọi cho data xuống đài BOB, thì tụi tôi cũng đã làm xong thủ tục rồi vào trục bay, đồng thời cũng liên lạc với trực thăng đang bay vòng phía dưới, để khi sau khi thả thì 1 phút sau mấy ổng sẽ chú ý nhìn vào khu mục tiêu xem độ chính xác khi thả bom thiệt như thế nào, từ xưa nay tôi có bay thả hỏa công ngày có, đêm có, nhưng chỉ mang 48 thùng phi đựng 55 ga lông xăng đặc Napal để thả chớ chưa bao giờ mang bom thật như ngày hôm nay. Sau khi nhập vào đường bay của đài BOB, phi-hành-đoàn chỉ đợi nghe 5 tiếng bíp bíp rồi 1 tiếng te dài là tôi bật đèn xanh và thủ tục thã bom bắt đầu. Phải tốn khoảng 1 phút + cho bom rơi từ 24 ngàn bộ đến mặt đất. Sau đó trên tần số FM tôi nghe ông Th/t KQ hồi nảy đang ngồi trên trực thăng quan sát la lên với một giọng vừa vui mừng, vừa hoảng hốt “ Herky 034 ngưng thả, ngưng thả… mấy anh thả chính xác quá trời, bom không có gắn ngòi nổ mà 4 trái nổ mẹ nó hết rồi, nổ văng cha nó luôn cây cờ đỏ tụi tui mới cho lính gắn trên mục tiêu hồi sáng, thôi mấy anh bay về lại TSN đi.” Trên phi-cơ bay phi vụ này ngoài phi-hành-đoàn 6 người thì có thêm Đ/t Lý chỉ huy trường bên Quân-cụ tháp tùng quan sát. Lúc về Th/t Mỹ để cho tôi đáp.. và tôi đã làm một cái chạm bánh thật là êm như đáp trên bông gòn, tôi nghe Đ/t Lý hỏi ủa mà mình đáp chưa dzậy ? Sao ngồi đây tôi nghe êm ru. (cái này có thiệt 99.9% nên xin quí đọc giả lâu lâu cho tôi được làm “Cat praised cat long tail” một lần.!). Th/t Mỹ để Đ/t Lý ngồi ngay giữa ghế cơ-phi còn ông cơ-phi thì đứng kế bên làm phận sự. Mấy ổng quên rằng nảy giờ tôi đang ráng bậm môi, gồng mình để đáp cho thật êm, không phải vì tôi muốm lấy le với Đ/t. Lý nhưng vì 8 trái bom có gắn ngòi nổ còn nằm phía sau.! Có lẽ vì quá sung sướng khi nghe thấy sự thành công của lần test đầu tiên nên khi trở về Th/t Mỹ di chuyển về bến đậu nhưng tôi bấm intercom nói ; “Hot Cargo” Thiếu tá! Ổng hỏi cái gì? Tôi nói, mình phải giải tỏa 8 cục nợ còn nằm phía sau! Th/t Mỹ lấy tay vỗ lên tráng nói, chút xíu nửa là quên, rồi quẹo trái trên đường di chuyển North South trở qua Hot Cargo. Đồng thời cũng cho Đ/t Lý về vì xe Jeep và anh tài xế còn ngồi chờ bên đó. Ngay tối ngày hôm đó thay vì mang 48 bình xăng Napal đi thả hỏa công như những lần trước, thì 2 chiếc C-130A của VNAF đã mang 96 trái bom 250 pound có gắn đầu nổ, âm thầm cất cánh trong đêm tối bay thả trên mật khu của VC, gần vùng biên giới Miên Việt. Ngày hôm sau có người nói lại rằng đã có nghe trên đài phát thanh của VC la hoảng: B-52 của Mỹ đã trở lại VN !
Không Quân Việt Nam mình sau hiệp định Ba-lê, có 2 phi-đoàn C-130A. Mỗi phi-đoàn có 16 chiếc, nhưng con số thực thụ không bao giờ đủ 16 chiếc. Còn số phi-cơ khả dụng để bay hành quân hay huấn luyện thì có chừng 10-12(?) chiếc là nhiều. Suốt 2 năm 4 tháng khi VNAF xữ dụng C-130 thì con số tổn thất chỉ có 3 chiếc (Trước 4/75) Chiếc phi-cơ cuối cùng bị hư hại tại Biên-hòa ngày 6 tháng 4, 1975, phi cơ của phi-đoàn 435 khi bị văng ra cỏ phi-cơ số đuôi HCB 55-002, phi-hành-đoàn vô sự, chiếc thứ nhì cũng của phi-đoàn tôi 435 bị hư hại trong phi-vụ tiếp tế gạo tại Sông Bé vào ngày thứ Tư 18 tháng 12, 1974 số đuôi 56-0521 cũng do Th/t Nguyễn- Chánh-Mỹ và co-pilot là Tr/u Châu-Vĩnh-Khải (Khải sửa. Khóa 7/68) bay, khi phi-cơ này bị trúng đạn pháo kích khi đang đậu thả hàng dưới đất. Vài giờ sau khi hay tin chiếc này bị trúng pháo kích và biết được phi-hành-đoàn vô sự, tôi chờ UH-1 của VNAF mang phi-hành đoàn về đến TSN, liền chạy tới hỏi thăm thằng Tr/u Khải, thấy tay nó dính đầy máu. Sau đó được nó kể lại rằng khi bị trúng đạn cháy máy số 4 bên phải, phi-hành-đoàn và hành-khách ai cũng tìm đường thoát thân khỏi phi-cơ, nó cũng tính theo đuôi Th/t Mỹ chạy ra bằng cửa chính, nhưng nhìn ra thấy đông quá nên nó đổi ý, trở lại mở cửa sổ phòng lái phía phải chổ nó ngồi rồi phóng xuống đất.
- Nhưng sao tay mày bị chảy máu tùm lum dzậy? Tôi hỏi.- Tại tao quýnh quá, sợ máy bay nổ nên chạy ra vòng đai phi- trường, chụp đại vô hàng rào kẽm gai leo nhảy dzọt ra ngoài đường nên tao bị lủng hai bàn tay. Khi tôi nghe nó nói nó nhảy ra khỏi cửa sổ của C-130 thì liền hỏi ngay, mà mày nhảy ra cửa sổ đó đầu trước hay chân trước ? Mà bay phi-vụ Sông Bé phi-hành-đoàn đều phải mặc áo giáp …sao mày lọt qua cửa sổ đó được ?
- Tao nhỏ con nên leo ra trót lọt..mà tao nhảy đầu xuống trước hay chân xuống trước tao cũng không nhớ. Tao chỉ biết không bị gãy tay chân hay bị thương nặng là được rồi. Tôi hỏi chi tiết vì từ cái cửa sổ của C-130 đến mặt đất cũng trên 8 feet, như vậy nhãy xuống đất đâu phải là chuyện dễ. Cuối tháng 12 năm 2006 tôi có về Cần-thơ thăm thằng Khải, tôi bới lại chuyện cũ hỏi nó vụ nhảy xuống đất từ cửa sổ của C-130 Ba mươi ba năm về trước, nó vẫn khẳng định không phải một mình tôi hỏi, mà chính ông Chuẩn-Tướng Tiên, cũng đã gọi riêng hỏi nó thoát thân từ C-130 bằng cửa sổ, đầu trước hay chân trước, và câu trả lời của nó cho Chuẩn tướng Tiên vẫn là không nhớ gì cả! Có lẽ nó là cháu của Đ/t Nguyễn-hồng-Tuyền , gọi Đ/t Tuyền bằng cậu ruột nên mới được Chuẩn tướng Tiên thăm hỏi kỹ vậy.
Đúng một tuần lễ sau đó, ngay vào ngày lễ giáng sinh của năm 1974, phi-đoàn 437 lại có một phi-vụ tiếp tế gạo 3 lượt cho tỉnh Phước-Long cũng vào ngày Thứ Tư, 25 tháng 12 năm 1974. Hôm đó Đ/u Nguyễn Chuân (Khóa 65) và tôi là phi-hành đoàn túc-trực I bên phi-đoàn 435, còn bên 437 phi-
hành-đoàn do Đ/u Trần-Ngọc-Châu (Châu Râu khóa 64E) và Tr/u Võ-văn-Sáu ( Khóa 68A) là phi-hành-đoàn túc trực I. Phi-vụ tiếp tế Sông-bé tuần rồi bên Phi-đoàn 435 đã thực hiện nên ngày hôm nay khi phi-vụ bay lên Phước-Long tới phiên bên Phi-đoàn 437. Tôi không biết nhiều về Đ/u Châu Râu, chỉ biết anh từ bên C-47 chuyển sang bay C-130, đáng lẽ phi-vụ ngày hôm đó của Đ/u Nguyễn-Khắc-Hoàng (Hoàng Mun, Khóa 64E) làm túc trực I, Đ/u Châu Râu làm túc trực II, nhưng Đ/u Châu Râu đề nghị với Đ/u Hoàng Mun đổi, để bay trước cho xong ngày đó, đặng buổi chiều về không bị lỡ hẹn với với cô Khen, người tình làm “ô tét đờ le” của Air Việt Nam. Còn Tr/u Võ-văn-Sáu thì cùng khóa Pilot 71-03 chung với tôi tại Keesler. Sau đó tôi và nó cũng học chung khóa I, C-123K tại Locbourne AFB, rồi khi chuyển sang bên C-130 tôi và nó cũng cùng chung khóa I . Sáng hôm đó tôi và Tr/u Sáu đang ngồi uống Cà Phê tại câu lạc bộ cuả phi-đoàn 437, đối ngang phòng yểm trợ hành quân của sư- đoàn 5. Tôi còn nhớ rõ lắm, tụi tôi 2 đứa ngồi chỗ bàn góc cuối ngay cửa kính nhìn ra phía đài kiểm soát và Terminal của Air Việt Nam. Thằng Sáu ngồi quay lưng về phía phòng yểm-trợ hành-quân của Th/t Long heo.
Ngày hôm đó tôi thấy trên gương mặt, trên ánh mắt của thằng Sáu có một vẻ buồn vô vọng. Đây là câu nói cuối cùng tôi nghe nó nói với tôi ngay cái góc bàn đó, mặc dù bây giờ đã 33 năm, nhưng tôi vẫn còn nhớ giọng nam kỳ thật chậm rãi và gương mặt trầm buồn, đăm chiêu của nó từng chữ một:
“ Khiêm ơi! Chắc tao đi kỳ này không có dề nửa mày ơi!”. Tôi cố trấn an nó :
- Đâu có gì mà mày nói sao nghe ghê quá dậy mậy!
Vì chiếc phi-cơ của phi-vụ này bị trục trặc kỹ-thuật nên mãi đến xế trưa mới rời ụ đậu. Sau khi chiếc C-130 của phi-đoàn 437 có số đuôi GZE 55-00016 cất cánh. Đ/u Chuân chở tôi trên chiếc xe Hoda Dame màu xanh của ổng chạy sang khu gia-binh để kiếm gì ăn trưa, lúc đang ăn tôi thấy có cãm thấy có một cái gì đó thật khó tả, linh tính dường như báo cho tôi biết có cái gì không ổn đây, câu nói của thằng Sáu hồi sáng cứ ám ảnh trong trí tôi mãi! Tôi và Đ/u Chuân bàn nhau không biết kỳ này bên 437 đi có sao không, sao tình hình vùng đó không ổn mà mấy ổng cứ bắt C-130 đi như vầy thật nguy hiểm quá. Khoảng cách từ TSN đến phi-trường Sông bé chỉ có 63 Nautical Miles đừng chim bay của Bearing 017 độ từ TSN Tacan 102 (Tactical air Navigation).
Đối với tốc độ của C-130 chỉ bay khoảng 18 phút là tới, tôi và Đ/u Chuân ăn thật mau rồi trở về Phi-đoàn, trên đường từ khu gia-binh về tôi nói với Đ/u Chuân rằng, nếu mình về đến phi-đoàn mà nhìn qua bên Không-đoàn 53 không thấy cái xe Jeep nào là xem như yên tâm, còn hể thấy có 3-4 cái xe Jeep đậu là xem như có chuyện lớn. Tôi ngồi sau xe Honda đi ngang qua phòng dù rồi mới tới sân trước Không đoàn, tôi ngồi sau nhưng vẫn cố chờm tới trước ngó qua cạnh góc phòng dù xem thử có thấy cái xe Jeep nào đậu trước Không- đoàn không ! Quả nhiên 4 cái xe Jeep sắp hàng đậu ngay trước không đoàn 53, Tim tôi đập mạnh , Đ/u Chuân và tôi lật đật dựng xe Honda rồi chạy lên phòng trực của Phi- đòan, vừa thấy mặt tụi tôi là ông Th/u Tiến sỹ-quan trực ngày hôm đó nói ngay: C-130 của 437 mới vừa bị bắn rớt ở Phước Long! Không có tin tức gì về số phận của Phi-hành- đoàn. Ổng không nói Sông Bé mà nói Phước Long, dù sao thì tụi tôi đã từng bay đến Sông Bé đã quá nhiều lần nên khi ông Th/u Tiến nói Phước Long thì tụi tôi nói ừ cái phi- trường ở đó là Sông Bé. Tôi thật bàng hoàng khi nghe tin này, người đầu tiên tôi nghỉ tới là thằng Tr/u Sáu. Mới cách đây chưa đầy 2 tiếng đồng hồ, thằng Sáu bằng xương bằng thịt còn ngồi uống Cà phê nói chuyện mà giờ đây hai chữ chiến tranh đã biến nó thành người thiên cổ ! Nếu như chiếc phi-cơ GZE không bị trở ngại Kỹ-thuật, nếu như thằng Sáu bay với Đ/u Hoàng Mun biết đâu mọi việc đã xãy ra sẽ hoàn toàn khác biệt…Tình hình quân sự lúc đó quá sôi động nên tôi không biết cấp trên có nghĩ đến việc tìm kiếm và thu hồi thân xác của phi-hành đó không? Mãi đến bây giờ vẫn chưa một ai tìm được câu trả lời, phải chăng phi-vụ cuối cùng tiếp tế cho tỉnh Phước Long của VNAF C-130 đã đúng như lời bài hát Không Quân Hành Khúc.”Đi không ai tìm xác rơi !”. Sau này tôi được biết khi chiếc GZE-016 của phi-đoàn 437 đáp ở Phi-trường Sông-Bé đã không bị ăn đạn pháo kích như những lần trước, nhưng bị trúng SA-7 sau khi mới vừa cất cánh chưa được 1 ngàn bộ. Báo-cáo bên bộ binh cho biết là đã nhận được số gạo tiếp tế, điều này chứng tỏ phi-cơ đã bị bắn rơi sau khi cất cánh đúng như những lời báo cáo về không-đoàn vào buổi chiều hôm đó. Phần tôi được may mắng còn sống sót để viết lại những dòng chữ này, vì chỉ 3 ngày
hôm sau Th/t. Phan-vũ-Điện (Khoá 64) và tôi được chỉ định bay một phi-vụ bí mật ban đêm vào Lộc-ninh vào ngày Thứ Bảy 28 tháng 12 năm 1974 cũng trên chiếc C-130 mang số HCM 518 mà tôi đã viết chi tiết trong bài “Phi-vụ 2868” , đăng trong Đặc San này số tháng 3 năm 1991. Tôi xin trích lại một đoạn lời nói của cố Tr/t Lâm-văn-Phiếu phi-đoàn- trưởng phi-đoàn 435, để quí đọc giả thấy sự may mắn của phi-hành-đoàn tụi tôi:
“ … hồi nảy sau khi mấy anh em cất cánh đi rồi.. .ngập-ngừng một lúc ông nói tiếp “ tôi nghỉ là chắc chẳng bao giờ tôi còn gặp lại mặt mấy anh em nửa!”. Nảy giờ tôi lại đằng Chùa đọc kinh cho mấy anh em đi về được bình-an, chừng nghe trên máy Motorola của KĐ báo là 518 đã về đáp an-tòan tôi mừng quá ra đón mấy anh đây.!”
******
(Còn tiếp..)