Friday, March 3, 2023

Đại Hội Không Quân VNCH Toàn Thế Giới - Orange County - California Hoa Kỳ 2 tháng 7 năm 2013 - Golden Sea Restaurant - Anaheim CA


 Thông báo số 2 cập nhật 22-2-2023

Xin được thông báo cùng  quý Không Quân khắp nơi:

Đến ngày hôm nay 22 tháng 2 năm 2023, BTC đã nhận được 60 bàn từ các Phi Đoàn, các Hội KQ và các khóa,

(Sức chứa tối đa của nhà hang)

Yêu cầu các khóa hay Phi Đoàn đóng tiền càng sớm càng tốt để được ưu tiên.

BTC đã có 50 Không Quân ghi danh chờ đợi, xin quý vị gởi tiền vế BTC sớm.

 Sau khi xác nhận và đóng tiến đầy đủ, BTC sẽ thông báo sau

Cũng xin thông báo Hậu Hội Ngộ sẽ do BTC lo. Quý vị ghi danh để BTC tiện việc

 lo thực đơn và địa điểm thích hợp.

I./ Chương trình tổng quát ngày Đại Hội KQ, 2-7-2023

a./ Tiền Hội Ngộ: Thứ Bảy ngày 01 tháng 7 năm 2023

 Vì ngày thứ Bảy, tai Quận Cam có nhiều nhóm (A37, F5, UH1) Không Quân tổ chức Hội Ngộ

Nên BTC đề nghị không có Tiền Hội Ngộ vào thứ Bảy.

b./ Đêm Hội Ngộ.: Chủ Nhật ngày 02 tháng 7 năm 2023

Địa điểm: Nhà hàng Golden Sea., 9802 Katella Ave, Anaheim, CA

Từ 5:00 PM đến 11:15 PM.Hội Ngộ, Dạ tiệc Dạ vũ.

Để cho Đêm Hội Ngộ được chu đáo, yêu cầu

Ban Tổ Chức và Ban Cố Vấn vui lòng đến sớm lúc 2:00PM để điều chỉnh thiếu sót

c./ Hậu Hội Ngộ: Thứ Hai ngày 03 tháng 7 năm 2023

Thời giờ: Từ 10:00AM…

Địa điểm: Sẽ thông báo sau

II./ Ghi danh và đóng tiền.

BTC ĐHKQ xin tạm không nhận ghi danh tham dư thêm vì số bàn tham dự đã tới 57 bàn (sức chứa của nhà hàng chỉ có 55 bàn)

BTC yêu cầu quý đơn vì đã ghi danh, đóng tiền càng sớm càng tốt để được ưu tiên.

Đã đóng tiền tham dự đến sau ngày 20 tháng 6 năm 2023, Ban Tổ Chức sẽ không hoàn tiền lại

Quý Không Quân nào tham dự riêng  xin ghi danh và đóng tiền trước, Không đóng tiền, không bảo đảm chỗ ngồi.

Chi phiếu gởi về địa chỉ: Paul Lê hay Cù Thái Hòa. Memo: ĐHKQ 2023

11554 Azalea Ave Fountain Valley, CA92708

Email: Saule968@yahoo.com, Zelle phone number (714) 640-0318 

Giá vé ủng hộ:

Đêm Hội Ngộ, 2-7-2023 :  $75.00/ng.

Hậu Hội Ngội, 3-7-2023, BTC lo.

III./ Phương tiện di chuyển và khách sạn

a./ Phi trường.

Los Angeles (LAX)  đến Little SaiGon… 23 miles

Long Beach (LGB) đến Little SaiGòn…  13 Miles

Santa Ana (SNA) đến Little SaiGon …10 Miles

b./ Khách sạn:

10022 Garden Grove Blvd, Garden Grove, CA 92844 (714) 534-1818

Book online: Ramadaplaza-anaheim.net

Quý bạn ở xa cần sự giúp đỡ, LL Thiên Bằng 241 Đoàn Văn Lập lapchidoan@yahoo.com (714 )262-9015

Thông báo này sẽ phổ biến trên  Hội Quán Phi Dũng, Cánh Thép, KQVN-MTC và kqvn

Tuesday, February 14, 2023

“Đời Phi Công"

Mấy anh em tôi đều khù khờ như nhau. Tân Ngố, thằng em kế từ Cali gọi điện thoại hỏi: - Anh có biết gì về chương trình Viết về nước Mỹ cuả Việt Báo không? - Có nghe nhưng không rành mấy.
Nó gạ:
-Nếu có rảnh, viết bài gửi sang, nó ký tên, gửi. Lỡ trúng giải, nó ở gần, đại diện lãnh và xài dùm cho.
Tôi nói, bài đăng báo là để cho người viết hay, tôi sang đây, tối ngày đi chôn ống cống, biết gì mà viết với lách. Nó "động viên":
- Có nhiều người viết hay, nhưng hay kiểu mèo khen mèo dài đuôi thì đọc không phê. Trong nhà mình, anh được tiếng là khờ nhất. Người khờ thì hay nói thật, mình không hay nhưng mình viết thực, đôi khi ngựa về ngược. Nếu trúng giải, anh em mình cưa đôi.
Sau khi cúp phone, vợ tôi lo lắng hỏi:
- Hai anh em ông không bàn chuyện gửi tiền về Việt Nam đấy chứ?
- Không, bàn chuyện viết bài đăng báo.
Vợ tôi tròn xoe đôi mắt bồ câu quá date kêu lên:
- Giêsu Ma!
Nói đoạn, nàng đến gần rờ vào đầu tôi, bắt mạch xem có bị sốt hay không. Không lẽ từng này tuổi, tôi lại không viết nổi một bài luận văn sao. Tôi quyết định viết bài dự thi, cho dù biết chắc là bị loại nhiều hơn được chọn.
***
Hai vợ chồng tôi lấy nhau được hơn một năm thì vượt biên, vị chi đến nay định cư ở Mỹ được hai chục năm.
Ngày mới sang đến trại tị nạn, hăm hở lắm với những tin đồn được đãi ngộ tại Mỹ. Tôi là phi công của Không quân, vợ tôi là phụ tá nghiệm chế ở Dược khoa, chắc Mỹ chẳng bỏ rơi mình.
Đúng, Mỹ nó chẳng bỏ rơi hai vợ chồng tôi khi đặt chân đến phần đất mới này. Nó cho vợ tôi cái nghề rửa chén, và cho tôi một cái xẻng để làm helper đi đào đất chôn ống cống. Mỹ còn ưu ái hơn, cho chúng tôi mỗi đứa một số quần áo ''tốt'', tha hồ lựa ở kho Salvation Army. Hai vợ chồng từ đó biết thân phận mình, vừa làm, vừa học và vừa góp tiền cắc để gửi về giúp gia đình.
Một hôm, hình như cám cảnh cái nghề mới của tôi, vợ tôi hỏi:
- Kể cho em nghe, tại sao anh lại trở thành phi công?
- Tại anh có chí tang bồng hồ thỉ, muốn làm Đường Minh Hoàng đêm đêm du nguyệt điện.
Đây là lần đầu tiên nói dối vợ, không hiểu tại sao vợ tôi lại biết, nó bĩu môi đáp:
- Xạo ke.
***
Thú thực đời phi công của tôi bắt đầu chẳng phải vì chí tang bồng, mà nó bắt đầu bằng một sự ngẫu nhiên.
Biết khả năng mình chẳng thế nào lái nổi chiếc máy bay. Vì di truyền sao đó, có thể tại ông già bị má tôi dợt cho quay mòng mòng hoài, nên cứ ngồi lên cái gì nhúc nhích là tôi nhức đầu, kể cả ngồi võng.
Tôi ở Rạch giá, thời học trò thỉnh thoảng được về thăm quê, cứ mỗi lần xe đò chạy tới Bình Chánh là tôi bắt đầu ói mửa như con gái có bầu. Nghĩ đến Không Quân, tôi cũng khoái lắm, khoái không phải vì bay bổng mà là vì khỏi lội sình. Nhưng cứ nghĩ sang Không Quân mà không bay được, thế nào nó cũng đuổi về Bộ Binh thì quê lắm.
Tôi gia nhập khóa 1/69 Bộ Binh, đang thụ huấn tại Quang Trung thì Không Quân sang tuyển người. Tôi chẳng tha thiết gì nhưng thằng Trương Phương Tuyên dụ:
- Ghi danh vào Không Quân, theo xe về Trung Tâm Y Khoa khám sức khoẻ, mỗi ngày mình chỉ cởi quần áo cho ông bác sĩ xem, nhảy tưng tưng mấy cái cho ổng đo, rồi vù ra phố chơi chiều về lại quân trường, đã lắm.
Tôi và nó ghi danh vào Không Quân và đúng như nó nói, hai thằng nhởn nhơ một tuần lễ đi khám sức khoẻ. Khám chẳng được là bao, nhưng chiều nào về ngang qua Ngã ba Chú Ía, hai thằng cũng không quên vẫy tay chào mấy nàng Kiều cho thắm tình Quân Dân cá nước.
Mãn khóa Quang Trung, tôi được chuyển về Thủ Đức học tiếp để chờ ngày ra trường. Một hôm chuẩn bị ra tuyến ứng chiến, tôi được lệnh trả quân trang để về Không Quân. Thằng Tuyên nói:
- Chỉ còn 6 tuần nữa ra trường, mang lon Chuẩn uý, bây giờ về Không Quân mang Alpha dài dài.
Hai thằng bèn hạ quyết tâm ở lại.
Tôi nói với ông Thượng Sĩ già:
- Thượng Sĩ, tôi không về Không Quân đâu.
Ông trợn mắt lên nạt:
- Giỡn chơi cha non, quân đội chứ ở nhà hay sao? Bộ muốn làm gì thì làm hả? Đến 8 giờ tối mà không ký giấy trả đồ, An Ninh nó ghép vô tội nội tuyến là bỏ mẹ.
Nghe nói tới An Ninh là tóc tôi dựng đứng đàng sau, tôi bèn trả đồ và lấy Sự vụ lệnh để về Không Quân.
Tôi được xếp học khóa 69A, toàn là những tay thông minh và gốc bự, như thằng Phan Huy Bách, ba nó là Thủ tướng Phan Huy Quát, thằng Hà Thúc Việt chi chòm ông Hà Thúc Ký, Hồ Văn Anh Tuấn con cháu Hồ Biểu Chánh (Nó thề độc là mình không có dính dáng gì đến Hồ Chí Minh). Chỉ có tôi là bần cố nông mê muội, ngay cả ông già cũng chết ngắc ngày còn nhỏ.
Ra đến Nha Trang tôi được niên trưởng chào đón và dạy dỗ rất chí tình. Khóa đàn anh, tôi gọi là niên trưởng; khóa lớn hơn tôi gọi là đại cồ; lớn nữa thì gọi là siêu đại cồ; rồi dần dà lên đến Thiếu uý Sinh viên sĩ quan, Trung uý, Đại uý... Có một ông Niên trưởng tự xưng là Đại tá sinh viên sĩ quan siêu đại cồ niên trưởng. Hôm mới ra Nha Trang ông bắt tôi chào con Đại bàng ở cổng, ông cầm khẩu carbine lên đạn lách cách tuyên bố: - Bắn bỏ ba mươi phần trăm không cần làm báo cáo.
Tôi hoảng hồn. Té ra tôi chọn lầm binh chủng rồi, ở đây nó coi mạng sống con người rẻ như bèo.
Ông niên trưởng hay ví von thời gian đi lính của tôi ít hơn ngày ông khai bịnh lậu ở quân trường. Ông dạy tôi về tinh thần ''thượng mã'' của phi công, ông nói ra trận, hạ máy bay địch, nếu phi công nó nhảy dù ra thì bay ngang, lắc cánh mà chào chứ không bắn pilot. Ông dạy về chữ: ''Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè''. Ông nói:
- Tất cả mọi người đeo con rồng lên ngực, sống chết có nhau, là ăn cùng mâm, ngủ cùng giường.
Thằng Hà Thúc Việt cười phá lên, ông niên trưởng đến gần gằn giọng: - Ông này cười cái gì?
- Dạ cười ngủ chung với Tiếp Viên Hàng Không.
Ông ngạc nhiên nhìn nó, đi tới đi lui, ngẫm nghĩ, chợt ông đừng lại gằn giọng:
- Mặt ông ngu hơn thằng chăn trâu, Tiếp Viên nào cho ngủ chung mà mơ. Nó dí dỏm đáp:
- Dạ tại niên trưởng nói ai đeo con rồng lên ngực thì mình được ngủ chung một giường.
Ông bực lắm, với giọng kẻ cả, ông giải thích:
- Có nhiều loại rồng, rồng Không Quân là rồng khạc lửa, rồng Nữ Tiếp Viên là rồng...lộn.
Đến lượt thằng Tuyên phì cười. Ông quát:
- Ông kia cười cái gì?
Nó bí thế đáp:
- Dạ cười con rồng.
Ông trợn mắt hỏi:
- Con rồng có gì mà cười?
Tuyên đáp bằng giọng Huế:
- Dạ, tại nó ... lộn.
Cả hàng quân cười ồ lên, ông thấy mấy thằng đàn em này lếu láo qúa, ông phải ra oai kẻo chúng lờn, ông nạt tiếp:
- Rồng lộn có gì mà cười?
- Dạ con rồng lộn không có gì để cười, nhưng Nữ Tiếp Viên rồng lộn thì buồn cười.
Ông tức mình bắt hai thằng móc giò lên cửa sổ, miệng hô to một trăm lần câu: ''Nữ Tiếp Viên rồng lộn không có gì phải cười''.
Tưởng như chưa đã nư, ông đến gần một thằng thấp nhất khóa, gằn giọng hỏi:
- Tại sao ông đã xấu, mà lại còn dám lùn?
Thằng Tú ngơ ngác vài giây rồi đáp sảng:
- Dạ tại ... ông già lùn.
Ông niên trưởng lại đi thêm một bài giáo khoa thư:
- Xe trước đổ thì xe sau tránh, cây đắng thì phải cố sinh trái ngọt, ông già lùn thì con phải cao, ông biết vậy mà còn ngoan cố cứ lùn. Móc giò lên đuôi bom cho tôi.
Giải quyết xong thằng Tú, ông bước sang đứa kế, ông hỏi:
- Ông tên gì?
- Khóa sinh Lê Văn Nãi, khóa 69A trình diện niên trưởng.
Ông nhìn thằng Nãi đẹp trai, cố kiếm một tội để ghép. Ông chửi:
- Gái bán Bar cũng biết ông thuộc khóa 69A, tôi hỏi tên, khai chi cả khóa. Ông họ Lê, biết Lê Long Đĩnh không?
- Dạ không.
- Mặt ông và mặt Lê Long Đĩnh giống nhau như đúc mà còn chối. Lê Long Đĩnh là vua dâm dật Lê Ngọa Triều, ông tổ mười đời của ông mà ông còn chối thì mai sau ông sẽ chối bỏ bạn bè. Từ nay mỗi lần trình diện, ông phải nói: Khóa sinh Lê Văn Nãi, cháu đích tôn Lê Ngọa Triều, ông quên thì thác cô hồn với tôi.
Ông niên trưởng chừng như thấy quá mất giờ để phạt từng thằng, ông dõng dạc tuyên bố:
- Chưa có một khóa nào ngu như khóa này, mặt ông nào cũng đần đần độn độn, tôi đếm từ một tới năm, không muốn thấy một cái chân ông nào còn đứng trên quả địa cầu.
Ông bắt đầu đếm, hàng quân như ong vỡ tổ, mỗi đứa cố gắng kiếm một vị trí để móc cẳng mình cao hơn mặt đất, không cứ là móc lên cái gì, miễn là đôi giày bốt không còn chạm mặt đất cho ông niên trưởng hài lòng.
Tôi cắn chặt hai hàm răng, sợ bật cười sẽ bị ông ra lệnh móc cẳng lên ngọn cây dương thì khốn.
***
Thấm thoắt một năm trôi qua, tôi được trở về Tân Sơn Nhứt học Anh Ngữ rồi đi Mỹ để học lái máy bay.
Đây là lần thứ ba tôi được leo lên chìếc máy bay. Hai lần trước đều ngồi bệt dưới sàn chiếc C119 thủng đít đi từ Sài Gòn ra Nha Trang và về lại, lần nào mưa cũng hắt ướt như chuột lột, lần này chiếc máy bay của hãng Braniff International không dột mà lại có ghế đàng hoàng, cô chiêu đãi viên đẹp hết cỡ, cô ta hỏi chuyện tôi nhiều, nhưng tôi không hiểu mấy. Một lần tới bữa ăn cô hỏi:
- Do you want coffee, tea or milk?
Nhìn chiếc xe cô đẩy, tôi hiểu ngay rằng cô hỏi tôi muốn ăn uống gì không. Tôi trả lời là Yes. Cô lại hỏi:
- You want some coffee?
Tôi lập lại là Yes, với chữ S kéo dài thêm, ý nói muốn lắm.
Cô đưa cho tôi một ly cà phê đắng nghét. Mỉm miệng cười duyên, chắc cô đoán chuyến phi cơ này đụng toàn thứ thiệt, không cần phải hỏi thêm thằng Việt, cô đưa cho nó một ly sữa tươi. Cô hỏi hai đứa:
- Do you want some sugar?
Tôi tưởng cô hỏi muốn thêm cà phê không, nên trả lời rất lịch sự:
- No, thank you Sir .
Uống xong ly cà phê đắng, tôi hỏi thằng Việt, sao mầy được uống sữa, nó trả lời cũng không hiểu tại sao. Tôi nói ở quê tao sữa bột pha ra toàn cho heo ăn, người uống đau bụng chết. Nó nói, họ đưa gì thì uống nấy chứ bộ chọn được sao? Tôi than phiền phải uống cà phê đắng, nó nói chắc Mỹ nó không uống đường, hôm nay mình sang Mỹ tập uống cà phê đắng cho quen.
Sang đến Lackland Air Force Base tôi được học những từ ngữ chuyên môn Anh ngữ và mãn khóa.
Lúc này trình độ Anh ngữ khấm khá lắm rồi, ông thầy Anh văn dưới quê bị tôi bỏ xa. Dù sao tôi cũng phải mang ơn ông vì ông đã dạy cho tôi biết những câu vỡ lòng, như chữ bacon nghĩa là thịt mỡ, hot dog là thịt chó nóng hổi và ''chase the girl'' nghĩa là rượt con gái. Tôi cũng đã biết chắc chắn rằng đồng mười xu tuy nó nhỏ hơn đồng năm xu nhưng giá trị gấp đôi.
Cuối cùng ngày chờ đợi đã đến, đó là ngày chuyển trại để đi học lái máy bay ở Fort Wolter,Texas, tôi lo lắm, vì cái bệnh say gió của mình thế nào cũng bị rớt đài. Hôm đầu tiên ra phi đạo, thằng thầy cho tôi lên chiếc TH 55 nhỏ như cái trứng gà, lại không có cửa, nó bay lên tắp tít mây xanh nghiêng qua nghiêng lại phát khiếp, mỗi lần như vậy tôi phải uốn người vào trong cho máy bay thăng bằng trở lại, chỉ sợ mình rớt ra ngoài. Có nhiều lần tôi phải gồng tay lại nắm lấy thành ghế cho chắc. Sau gần một giờ biểu diễn, thằng thầy đáp xuống phi đạo, nhìn tôi cười cười. Tôi ra hiệu cho nó, ý nói phải ngừng ngay tại chỗ cho tôi nhảy xuống, bằng không tôi sẽ ói thẳng vào mặt nó. Thằng thầy đứng lại cho tôi ói. Tôi ói một cách thoải mái cho dù biết rằng cú ói này sẽ chấm dứt cuộc đời bay bổng cuả mình.
Lạ quá, sau khi đưa máy bay vào chỗ đậu, nó khen tôi chịu đựng giỏi và tiên đoán là tôi sẽ bay được. Tôi vận dụng khả năng Anh ngữ để hỏi là tại sao ói mà bay được? Nó cười cười trả lời:
Chẳng có thằng nào mà không ói ngày nó bay thử đầu tiên cả.
Tôi mừng lắm, thì ra tôi ói là do thằng này nó chơi, có lẽ cái sự quay mòng mòng của má tôi nó không áp phê ở xứ Mỹ này. Chắc là được Chúa Phật độ trì, sau gần một năm tôi thi mãn khóa và đậu. Bạn bè có đứa xì xào rằng tôi đậu vớt.
Về nước và chuyển về Không đoàn 43 Chiến thuật ở Biên Hoà. Một hôm đi hành quân ở biên giới Kampuchia, thả Biệt kích Lôi Hổ. Đang mơ mộng nhìn con suối thì đạn AK nổ như bắp rang, phi cơ tôi như cục sắt rớt cái bịch xuống sườn đồi, tôi chẳng còn nhớ tí ti gì về phương pháp đáp khẩn cấp mà trường đã dạy. Nhìn ra ngoài, thấy chiếc phi cơ móp bẹp như con cóc tiá, cánh quạt chém cây rừng đổ te tua và chiếc cánh quạt cũng te tua chẳng kém ngọn cây rừng. Hai chiếc Cobra của Mỹ hộ tống bắn rocket rầm rầm làm tôi hoảng quá, rút vội cái chốt gắn khẩu đại liên cùng thằng xạ thủ phóng ra rừng chạy một mạch. Chạy khoảng 200 mét, tôi hoàn hồn chút đỉnh và mệt quá, tôi chọn chiếc gò mối cao, căng chiếc càng đại liên ra, chuẩn bị một xạ trường để chiến đấu. Thằng VC nào vô phúc nhào lên là nhất định sẽ sinh Bắc tử Nam. Tôi thấy thiếu một cái gì mà nghĩ hoài không ra, bỗng thằng xạ thủ hỏi:
- Thiếu uý, mình không có đạn à?
Lúc bấy giờ tôi mới nhớ, thì ra vác cây đại liên mà chạy, tôi quên phéng ngay thùng đạn còn nằm trên phi cơ, tôi vội tháo lấy chiếc nòng, rồi vứt cây súng M 60 vào bụi rậm và... chạy tiếp.
Tôi còn một cây P.38 và hai viên đạn, lúc này mới thấy nguy hiểm quá chừng, hai viên đạn thì làm được trò trống gì. Ngày lãnh súng, tôi được phát 6 viên đạn, ráp đầy các lỗ của trái khế trong ổ súng, tôi thấy hơi ít, hỏi ông Phi đoàn phó, ông nói:
- Pilot đi đâu cũng chỉ đeo có một cây súng và hai viên đạn, mày có 6 viên còn ít ỏi gì. Nghe nói thế sau này mỗi lần đi bay gần bãi trống tôi hay bắn bia và cuối cùng còn lại đúng hai viên. Trên tay còn cái nòng súng M 60, tôi nghĩ, Việt cộng đội nón cối, mình lựa thế, dến cho một nòng đại liên bằng sắt lên đầu, có mà trời cứu. Nghĩ thế nên tôi vững bụng đôi chút. Cũng may lần này có hai chiếc gunship hộ tống và mấy chiếc H34 thả Lôi Hổ ở Lào đang bay về gần, xuống bốc bọn tôi về an toàn.
Thấy hai thằng Võ Trang bay vòng vòng có vẻ đỡ nguy hiểm hơn đi thả Lôi Hổ, tôi có ý định xin về bay trực thăng võ trang Gunship. Chưa kịp xin thì hên quá, xếp của tôi cho tăng cường vào Phi đội Gunship. Bay Gunship thì mệt một chút nhưng không phải lơ lửng trên ngọn cây đưa bụng cho chúng bắn.
Một hôm đi hành quân ở gần Bến Thế- Bình Dương, tôi phải yểm trợ cho Bộ Binh hành quân. Quân bạn cho biết họ ở sát bờ nam con rạch, địch ở phía bắc. Tôi nghĩ thầm, mấy cha Bộ Binh hay lừa mình, thôi thì bay cách hướng Nam con rạch hai cây số, bắn về phía Bắc, rồi cách con rạch một cây số ta vòng lại, nếu máy trục trặc thì cũng rớt lên đầu quân bạn. Tôi vào trục, nhắm mục tiêu bóp cò, rocket không nổ, tôi lượn ra mới hay mình bật lầm nút. Tôi nhào vào lại, bắn được hai quả rocket, một quả tịt, một quả nổ ở hướng nam con rạch, thì thấy đạn phòng không bay tứ phía, phi cơ bốc cháy ở bình xăng, tôi phải cho máy bay, bay ở vị thế nghiêng, cho khối lửa dạt ra ngoài, kẻo nó tràn vô phòng lái.
Theo bài bản học khi ở trường lái, nếu máy bay cháy, việc đầu tiên là phải bấm nút release cho hai bó rocket rớt khỏi thân tàu, kẻo nó bắt lửa nổ là bỏ mẹ cả đám. Tôi tính làm như vậy nhưng chợt nhớ lời ông già dặn hồi nhỏ: Đánh nhau, nếu bị thằng hàng xóm đấm vào mặt, không đấm lại được, thì lấy đất cày mà phang vào mái nhà nó, gặp thằng keo kiệt, tiền sửa mái nhà làm nó đau hơn bị đấm thiệt. Nên thay vì release hai bó rocket, tôi bèn bật nút cho nó nổ ''la phan''. Ôi thôi mười sáu quả còn lại thi nhau chui khỏi giàn phóng, quả thì nổ ở hướng bắc con rạch, quả thì bay tuốt sang bên kia sông Sài Gòn nổ ở tận mật khu Bời Lời. Tôi quẹo 180 độ và cho phi cơ nhào đại xuống con rạch gần đó.
Chiếc máy bay cày tung bùn như con cá thòi lòi phóng dưới bãi sình và tôi phóng vội ra ngoài. Cụ mẹ cuộc đời, tôi bị lừa, Bộ Binh nó cách con rạch tới hai cây số. Sau này hỏi lại, tôi được trả lời là nó sợ tài bắn cuả tôi, nếu không nói vậy lỡ tôi bắn trúng đầu nó thì sao. Mà nó hay thiệt, nếu nó ở phía nam con rạch như lời nó nói, thì quả rocket vừa rồi đã làm nó chạy té đái trong quần.
Cũng may số tôi còn lớn, thằng Gunship 2 kề kịp và bốc tôi lên an toàn, bỏ lại chiếc máy bay cháy mịt mù ven bờ suối. Về đến Phú Lợi, tôi mới hoàn hồn hẳn và nhận ra Phi hành đoàn thiếu một người. Tôi hỏi Cơ Phi là thiếu ai, nó nói thằng Xạ Thủ nóng quá phóng ra lúc còn ở cao độ hơn trăm bộ. Và cũng may mắn là nó rớt xuống cái bào và thằng C & C hành quân gần đó bốc lên rồi.
Hôm sau đơn vị cho biết, tôi sẽ được Anh Dũng Bội Tinh, công bắn mười sáu quả rocket, trúng hầm đạn VC gây nhiều tiếng nổ phụ, tôi còn được Chiến Thương Bội Tinh vì vết phỏng trên tay do quên mang chiếc găng tay chắn lửa Nomex, cộng thêm chiếc Phi Dũng Bội Tinh vì tôi bay hay quá, máy bay đã cháy mà còn lết cả mấy trăm thước mới chịu rớt.
***
Trời phú cho tôi cái tính hay sợ chết, sau lần chết hụt này, tôi nhắm xem có loại phi vụ nào ngon hơn bay Gunship hay không.
May thay, phi đoàn trưởng nói tôi có tướng ''sát phi''. Cả phi đoàn có không đầy hai chục chiếc phi cơ bay được, tôi đã nướng hết hai, ông không muốn mất thêm nữa, nên cho tôi bay những phi vụ liên lạc, và bay VIP thật là nhàn hạ.
Một hôm nhận lệnh bay cho Phủ Phó Tổng Thống, đáp ở bãi đáp VIP Air Vietnam. Tôi tưởng là mình sẽ chở tướng Kỳ hoặc bay theo chiếc Triệu Minh Vô Kỵ của ông, tôi đáp chỗ ấn định thì chẳng thấy tướng tá nào, chỉ thấy một ông già râu tóc bạc phơ cùng hai cô bé thơm như mít tố nữ, tháp tùng bằng một anh Đại uý với chiếc máy truyền tin PRC 25. Ông Đại uý hách xì xằng này ra lệnh cho tôi đi Trà Vinh. Tôi hỏi Trà Vinh là ở đâu? Ông trợn mắt nhìn tôi như nhìn một dị nhân, có lẽ ông nghĩ sao có thằng phi công ngu như vậy. Nhướng đôi lông mày, ông nói Trà Vinh nó ở Vĩnh Bình.
Tôi tưởng rằng mình sẽ bay vòng vòng ở Quân khu 3 nên hỏi: Vĩnh Bình có gần Phước Bình không? Ông hỏi: Phước Bình nào? Tôi nói Phước Bình ở gần núi Bà Rá trên Phước Long.
Ông chán đời nói: Mình đi Vùng 4. Tôi nói là không có bản đồ đi Vĩnh Bình ở Vùng 4 vì tôi hành quân ở vùng 3 Chiến thuật, ông nói cứ bay đi rồi ông chỉ.
Tôi bay xuống Vĩnh Bình, ông liên lạc sao đó, Tỉnh trưởng ra đón vào tòa hành chánh, để lại tôi và hai em bé xinh xinh chờ ở phi trường.
Tôi hỏi:
- Hai cô đi đâu mà xuống đây?
- Dạ em đi ăn giỗ ngoại.
Bây giờ thì tôi biết là phi vụ cuả tôi có nhiệm vụ đưa hai cô gái về quê ăn giỗ ông ngoại.
Chiếc xe Jeep cuả tỉnh chạy ra chở thêm mấy người nữa, có ông già búi tó, có bà mặc bà ba. Ông Đại Uý lại ra lệnh cho tôi:
- Mình đi Chợ Lách.
Tôi lại hỏi:
-Chợ Lách nó ở đâu?
Ông chán nản nhìn tôi và lập lại câu cũ: - Bay đi rồi tôi chỉ.
Ông khoác tay chỉ tôi bay về hướng Vĩnh Long, qua con sông Mỹ Thuận, rồi vòng vòng một hồi, ông chỉ một con sông, bảo tôi theo đó mà bay. Đến một con rạch nhỏ, ông dòm xuống một xóm làng và bảo tôi đáp xuống một con đê, gần đồn Nghĩa Quân. Ông ra lệnh:
- Tắt máy rồi mình vào đây ăn giỗ, chiều về.
Bốn thằng Phi Hành Đoàn tụi tôi nhìn nhau, tôi không dám để chiếc máy bay nằm đây cho Nghĩa Quân coi để vào ăn giỗ, sợ vợ nó xúi hút xăng về nấu rờ sô hoặc bỏ muối vào bình xăng chút ra đề khó nổ. Tôi năn nỉ ông cho bọn tôi về Mỹ Tho hay đâu đó để kiếm cơm bình dân mà ăn. Ông nói đi đâu thì đi 4 giờ trở lại đón Phái đoàn. Tôi bực mình cho phi cơ bay về Vĩnh Long đáp xuống bãi nổi ở bờ sông trước dinh Tỉnh trưởng. Một anh Địa Phương Quân ra đuổi, nói bãi đó dành riêng cho tỉnh trưởng, thằng Cơ Phi cương ẩu:
- Tỉnh Trưởng lớn bằng Phó Tổng Thống không? Phi cơ này của phủ Phó Tổng Thống.
Anh Địa Phương Quân chạy vào trong, lôi ra một anh Đại Uý, anh này khúm núm như tôi là Phó Tổng Thống vậy. Anh hỏi tôi cần gì, tôi mượn một xe Jeep đi ăn cơm. Cơm xong tôi phanh ngực áo bay, tụt phẹc ma tuya tới gần háng cho mát, giăng võng nằm ngủ. Ông Đại Uý thỉnh thoảng ra dòm chừng, có lẽ ông thắc mắc, sao Phi hành đoàn của Phó Tổng Thống mà quá bình dân và xấu trai như vậy. Gần bốn giờ chiều, trở lại Chợ Lách đón phái đoàn. Hôm sau kể chuyện lại cho thằng Tuất nghe, nó trợn mắt: - Mày điếc không sợ súng, vùng đó tụi tao ít thằng nào dám la cà vào, bay thấp thì AK nó bắn, bay cao thì hoả tiễn tầm nhiệt SA7 nó chào.
Tôi ngẫm nghĩ, phi vụ nào cũng nguy hiểm cả, như thế làm sao sống nổi cho đến ngày biết yêu. Tôi hỏi ông Phi đoàn Trưởng có phi vụ nào đỡ nguy hiểm hơn không, ông nói:
- Có, ở ngoài Phù Cát bay đỡ nguy hiểm hơn, vì toàn là cát và nước biển, có rớt cũng rớt êm êm.
Thực ra ông chỉ nói chơi thôi, vì tôi là thằng cuối cùng luân phiên thuyên chuyển sau bốn năm ở phi đoàn. Tôi ra Phù Cát, an toàn thật, vì thời điểm này Mỹ cắt viện trợ, một tháng chỉ bay vài phi vụ, còn lại là chuyên học nhảy đầm và luyện Tae Kwon Do.
Đến hôm di tản chiến thuật về Nha Trang, tôi đang uống cà phê ở Câu lạc bộ thì nghe súng nổ tứ tung, chạy ra ngoài thấy lính Không Quân chạy đầy phi đạo, tôi vội chạy ra chiếc phi cơ cuả mình, còn cách khoảng 20 mét thì thấy nó tự động vọt lên trời, bên trong đen ngòm là người. Quýnh quá, tôi vòng ngược trở lại, thấy một chiếc phi cơ cũng đầy là lính, trên ghế lái có một anh mặc đồ bay ngồi đó, chiếc ghế trưởng phi cơ còn trống, tôi phóng lên ngồi, cả phi cơ đều nhìn tôi. Tôi hỏi ông phi công:
- Vọt đi chứ cha, nó tràn ngập bây giờ.
Anh phi công nói:
- Em bay không được.
Tôi vội chụp cần lái, mở máy, cho phi cơ vội vọt lên trời và theo đoàn phi cơ hướng về Nam, đáp xuống Tân Sơn Nhất. Tôi hỏi ông phi công ngồi bên trái:
- Ông là phi công gì mà không biết bay?
- Dạ em chưa ra trường, với lại hôm nay máy bay nhiều quá, mà em thì không có Check list để mở máy.
Đó là phi vụ cuối cùng cuả tôi, nó chấm dứt cuộc đời bay một cách vô duyên, có lẽ cũng giống như nó đã bắt đầu cuộc đời bay bổng vô lý cuả tôi. Nó không bắt đầu bằng mộng mây trời và cũng không kết thúc bằng những chiến công oanh liệt.
Phi công của Không Quân toàn là những anh hùng, những người hào hoa và bay bướm, không hiểu tại sao lại đọa ra một thằng như tôi, vừa cù lần vừa dấm dớ. Hơn 5 năm khoác chiếc áo bay, tôi chẳng làm được cái gì nên tích sự, ngoại trừ lừa được một người con gái khờ, đó là má bầy trẻ của tôi bây giờ. Cho tới nay bà vẫn tin là tôi ngon lắm, hơn hẳn những thằng phi công khác, cho dù cứ mỗi lần tôi gáy, thì theo thói quen, bà vẫn đồng ý bằng câu trả lời cũ ''xạo ke''.
Hiện nay đã ''An cư lạc nghiệp'' tại Mỹ, tuy cũng rất cùi đày chẳng kém ai, nhưng vào cuối tuần, tôi cũng hay la cà ở quán cà phê nghe anh em bàn chuyện thế sự.
Quán cà phê chỗ tôi ở, có đủ mọi chuyện dài ''Nhân dân tự vệ'', từ những ông đội đá vá trời một thuở, bây giờ làm Lã Vọng ở nhà ăn trợ cấp, đến những người biết quá nhiều nghề, chẳng nơi nào xứng đáng cho ông làm, bèn đi thụt bi da chờ thời. Tôi biết mình từng là pilot xạo ke thủa nọ, không dám gáy nồ trước đám đông, chỉ ngồi nghe kể chuyện thế thái nhân tình.
Hôm qua, có một ông sau khi kể thành tích long trời lở đất, thấy tôi ngồi im như Bụt, ông hỏi:
- Thế chú ngày xưa làm gì?
Bản tính bần cố nông của tôi tự nhiên vùng lên, không tự chế được mình, tôi gáy:
- Bay cho Phủ Phó Tổng Thống.
Cả quán bi da quay lại nhìn tôi, có nhiều câu bàn tán nhưng một câu tôi thấy thấm thía nhất do một anh thanh niên nói: “Xạo ke.”
Chuyện đóng góp vào cuộc chiến của tôi không có gì đáng ghi vào công trận, mà toàn là những chuyện làm mất mặt pilot và binh chủng. Tôi chỉ mong các phi công của Không lực thứ lỗi cho vì tôi bắt đầu nhận ra chân lý: ''Nhận cái dở mình có, hay hơn đánh bóng cái hay mình không có''.
Tuần rồi dự lễ ra trường của đứa con gái, nhìn lên câu khẩu hiệu mà lớp 2001 dùng làm kim chỉ nam cho cuộc đời tương lai của chúng, tôi suy nghĩ mãi. Câu nói rất giản dị của Tony Arata: 'I will do my dreaming with my eyes wide open and I will do my looking back with my eyes closed''.
Tuy phải lưu vong ở quê người, ngày ngày đóng vai thằng phu ống nước, kiếm đồng bạc nuôi con ăn học, khó có hy vọng trở về quê cũ cầm lại cần lái chiếc trực thăng, tôi vẫn cầu mong sao, kiếp sau nếu có làm người, tôi sẽ cố gắng trở thành một phi công đàng hoàng hơn để xứng đáng với lời hát: ''Phi công ra đi lướt trên ngàn mây gió''.
Tôi cũng mong sao tập thể phi công không buồn lòng khi có một thằng ''Pilot ke'' dám kể chuyện ''Xạo ke'' mà tỏ ra chẳng ''ke'' gì về dĩ vãng, ở cái mảnh đất tạm dung này. Thật là đa tạ, đa tạ.
Nguồn FB

Friday, July 29, 2022

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, cựu tư lệnh Không lực VNCH, từ trần VOA Tiếng Việt

Khoa học gia chuyên ngành kỹ thuật không gian người Mỹ gốc Việt nổi tiếng thế giới, ông Nguyễn Xuân Vinh, tạ thế hôm 23/7 tại nhà riêng ở bang California, Mỹ, hưởng đại thọ 92 tuổi.

VOA được biết phu nhân của giáo sư Vinh, bà Phiến Đan, và giáo sư Trần Huy Bích xác nhận tin buồn này lần lượt với các báo Người Việt và Sài Gòn Nhỏ, đều có tòa soạn đặt ở Westminster trong cùng tiểu bang.

Bà Phiến Đan, còn có tên Mỹ là Elizabeth Xuân Vinh, cho Người Việt biết phu quân của bà, người từng giữ chức Tư lệnh Không lực Việt Nam Cộng Hòa, đã “ra đi nhẹ nhàng, bình an, bên cạnh những người thân yêu trong gia đình, và được nghe Thánh ca do ca đoàn Giáo xứ La Vang hát” tại nhà riêng ở Costa Mesa.

Vẫn báo Người Việt tường thuật trong bản tin ngày 24/7 rằng bà Phiến Đan “vô cùng đau xót” khi ông Vinh từ giã dương thế và bà, người vợ đã cận kề chăm sóc ông trong những ngày tháng cuối đời của ông.

Thánh lễ an táng giáo sư Vinh sẽ được tổ chức tại nhà thờ Chính tòa Chúa Kitô, Garden Grove, hôm 29/7; sau đó, linh cữu giáo sư sẽ được đưa đi hoả táng và tro cốt sẽ được an vị ở nhà thờ này, bà Phiến Đan nói với Người Việt.

Ông Nguyễn Xuân Vinh, sinh năm 1930 ở Yên Bái, miền bắc Việt Nam, là người có năng khiếu toán khi còn nhỏ và trở thành giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ chuyên ngành kỹ thuật không gian của Mỹ trong giai đoạn từ năm 1965-1986, theo tìm hiểu của VOA.

Sự nghiệp khoa học của giáo sư Vinh bắt đầu vào năm 1962, khi ông đi du học ở Mỹ. Sau 3 năm, ông là người đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ về khoa học không gian tại Đại học Colorado, đánh dấu việc ông thực hiện thành công nghiên cứu công trình tính toán quỹ đạo tối ưu cho phi thuyền, do Cơ quan Hàng không và Không gian Mỹ, NASA, tài trợ.

Tên của ông, Nguyễn Xuân Vinh, được trang trọng tôn vinh tại phòng trưng bày thành tựu chinh phục không gian của NASA nằm trong Trung tâm điều khiển bay cơ quan này, đặt ở Houston, bang Texas.

Các báo Đại Đoàn Kết, Thanh Niên và VNExpress ở Việt Nam đăng bài hồi tháng 7/2006 có đoạn viết rằng: “Thời mà đại đa số dân Việt còn đi xe đạp thì những nghiên cứu của Nguyễn Xuân Vinh bằng các lý thuyết toán học đã vạch đường bay cho phi thuyền lên mặt trăng … Những lý thuyết của Nguyễn Xuân Vinh đã góp phần quan trọng đưa các phi thuyền Apollo lên được mặt trăng thành công và sau này được ứng dụng vào việc thu hồi các phi thuyền con thoi trở về trái đất”.

Ở tuổi 42, vào năm 1972, ông Vinh được phong hàm giáo sư tại Đại học Michigan và trong cùng năm ông cũng nhận bằng tiến sĩ quốc gia toán học tại Đại học Sorbonne, Paris, Pháp.

10 năm sau, ông là giáo sư của ngành toán ứng dụng tại Đại học Quốc gia Thanh Hoa ở Đài Loan. Vào năm 1984, giáo sư Vinh là công dân thứ ba của Mỹ và là người gốc Á đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Quốc gia Hàng không và Không gian Pháp.

Khi ông 56 tuổi, tức năm 1986, ông Vinh trở thành viện sĩ chính thức của Viện Hàn lâm Không gian Quốc tế, một viện được thành lập năm 1960 ở Thụy Điển và nay có trụ sở chính ở Paris, Pháp.

Là giáo sư, tiến sĩ, viện sĩ chuyên ngành kỹ thuật không gian lỗi lạc trên thế giới, ông được mời tham gia thuyết trình thỉnh giảng tại nhiều đại học lớn và các hội nghị quốc tế quan trọng trong nhiều năm liền. Bên cạnh đó, ông cũng giành được những giải thưởng lớn trong chuyên ngành vào các năm từ 1994-2007.

Năm 1999, khi giáo sư Nguyễn Xuân Vinh nghỉ hưu, ông đã được Hội đồng Quản trị tại Đại học Michigan phong tặng chức Giáo sư danh dự ngành kỹ thuật không gian vì công lao đóng góp cho khoa học và giáo dục.

Nhiều năm trước khi có sự nghiệp khoa học rực rỡ, ông Vinh đã giữ những chức vụ cấp cao trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ khi còn rất trẻ. Năm 1957, ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng Không lực Việt Nam Cộng hòa. Một thời gian ngắn sau, vào tháng 2/1958, ông được giao chức Tư lệnh của Không lực. Ông giữ chức vụ này cho đến năm 32 tuổi, khi ông đi du học ở Mỹ vào năm 1962.

Ông Vinh thôi chức tư lệnh không quân ở thời điểm 6 tháng sau khi xảy ra sự kiện hai phi công đã ném bom Dinh Độc Lập vào ngày 27/2/1962, và khoảng 1 năm trước khi quân lực Việt Nam Cộng Hòa có nhiều xáo trộn diễn ra song song với các vụ thanh trừng, đảo chính, phản đảo chính, với kết cục là Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ và bị bắn chết vào tháng 11/1963.

https://www.voatiengviet.com/a/6672642.html

Về một người vừa mới ra đi: Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh Bài KIỀU MỸ DUYÊN

 

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh- Cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, nhà văn, nhà giáo, khoa học gia đầu tiên của Việt Nam. (1930- 2022)

Khi nghe giáo sư Nguyễn Xuân Vinh bệnh, nhiều người cầu nguyện cho giáo sư sớm khỏi bệnh. Nhiều người định đi thăm giáo sư nhưng cứ nghĩ để cho người bệnh nghỉ ngơi, đến thăm nhiều không nên, nhưng những người ở xa về chơi Orange County nhất định phải đến thăm ông. Giáo sư Phạm Thái ở San Jose về Orange County họp mặt liên trường và đồng hương Tây Ninh nói với chúng tôi trước khi lên xe trở lại San Jose:
- Chị ơi, giáo sư Vinh yếu lắm rồi, chắc không qua khỏi trong hai tuần nữa.
Hôm nay, khi giáo sư Vinh qua đời, 1 giờ đồng hồ sau tôi được tin, chúng tôi gọi ngay cho giáo sư Phạm Thái. Ông nói:
- Chúng tôi đợi tin tức gia đình để xem ngày nào an táng, chúng tôi sẽ đến thăm giáo sư Vinh lần cuối.


Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh- nhà khoa học người Việt được NASA vinh danh. Ông đã vạch ra quỹ đạo cho những phi thuyền Apollo của Mỹ lên mặt trăng.


Còn nhớ vào thập niên 60, chúng tôi đang học ở Úc, tình cờ đọc báo thấy tin tức giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là khoa học gia. Chúng tôi rất hãnh diện về khoa học gia Việt Nam có tài làm phi thuyền lên cung trăng. Chúng tôi mua ngay một tấm thiệp chúc mừng, anh chị em du học ở Canberra, thủ đô của Úc, viết lời chúc mừng rồi gửi sang tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa nhờ chuyển đến giáo sư Vinh.

Bẵng đi một thời gian rất lâu mấy chục năm sau, chúng tôi gặp lại giáo sư Nguyễn Xuân Vinh ở đại học Michigan, hội thảo toàn nước Mỹ về người tị nạn ở đại học này. Những thành viên tham dự hội thảo có giáo sư Vũ Quốc Thùy, con trai của giáo sư Vũ Quốc Thúc, giáo sư của trường đại học luật khoa Sài Gòn trước năm 1975, Nguyễn Xuân Vinh đang dạy, giáo sư cũng là một diễn giả thuyết trình trong tuần lễ hội thảo đó. MNgười tham dự đại hội ở luôn trong trường học, buổi trưa khi ra phòng ăn, chúng tôi may mắn được ngồi đối diện giáo sư. Chúng tôi nhắc lại tấm thiệp chúc mừng mà chúng tôi đã gửi đến giáo sư sau khi phi hành đoàn bình yên trở về.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh được Hội Khoa Học Không Gian Hoa Kỳ tuyển chọn trao giải thưởng Dirk Brouwer về những thành tích và phục vụ của ông trong ngành cơ học phi hành không gian.


Chúng tôi cũng nhớ một chuyện tình rất đẹp trong tiểu thuyết ngắn "Đời Phi Công" của nhà văn Nguyễn Xuân Vinh, bút danh Toàn Phong. Chúng tôi nói ngay:
- Thưa giáo sư, giáo sư trả nợ cho tôi!
Giáo sư Vinh ngạc nhiên hỏi:
- Tôi thiếu nợ cô hồi nào mà cô đòi nợ tôi?
Tôi trả lời:
- Vì tôi đọc "Đời Phi Công" của giáo sư cho nên khi đến Paris, tôi vội vã đến bờ biển Nice để xem cát vàng lóng lánh qua ngòi bút miêu tả của giáo sư bờ biển Nice vô cùng quyến rũ. Chúng tôi cất công, tốn tiền đến đó, nhưng than ôi đến bờ biển Nice rồi, chúng tôi vỡ mộng vì bờ biển Nice không đẹp bằng biển Nha Trang. Như thế giáo sư phải đền phí tổn cho chúng tôi phải không?
Giáo sư Vinh hỏi chúng tôi:
- Cô đến Nice một mình hay đi với nhiều người?
Tôi trả lời:
- Đi với nhiều người.
Giáo sư Vinh nói ngay:
- Đi với nhiều người làm sao thấy được cát vàng lóng lánh?
Sau này đến Mỹ, chúng tôi có dịp gặp lại ông bà giáo sư Vinh ở miền Nam California khi có hội họp tổ chức ở đây.
Có lần, trong buổi cơm, ngồi gần ông bà, tôi hỏi phu nhân của giáo sư Vinh:
- Phượng trong tiểu thuyết "Đời Phi Công" có phải là chị không?
Phu nhân giáo sư Vinh trả lời:
- Nếu ai yêu không quân thì đều là Phượng.
Hai ông bà người nào cũng rất thông minh, trả lời như không trả lời.

Tiểu thuyết ngắn "Đời Phi Công" của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh sáng tác năm 1959, bút danh là Toàn Phong. Đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961. Tiểu thuyết dài 53 trang, gồm 9 chương: Đường Đời Muôn Vạn Nẻo, Ánh Sáng Kinh Thành, Trăng Dãi Bắc Phi, Gió Hải Hồ, Có Một Đàn Chim, Hội Mùa Hoa, Hẹn Một Ngày Về, và Tiếng Gọi Lên Đường.


... Đêm nay có một anh chàng

ngồi giữa ánh sáng kinh thành
mà nhớ đến quê hương...

... Mang thân làm cánh chim,
ai ra đi cũng hẹn có ngày trở về tổ ấm ...

... Để chờ đợi một ngày mai hạnh phúc,
Có những mùa xuân đôi trẻ con gửi cho nhau
những cánh hoa kèm theo những câu chúc tâm tình ...

... Mang thân ra đi để che mưa gió
là các anh muốn cho những người như em
được mãi mãi sống trong bầu không khí thanh bình ...

... Ra đi vì nhiệm vụ
bao giờ thanh bình
con xin trở lại mái tranh xưa ...

Khi đi thuyết trình ở đại học Berkeley, trên đường về tôi đổi chuyến bay từ San Jose về Orange County để thăm một số người thân, trong đó có giáo sư Vinh và gia đình. Tôi đi xe từ San Francisco về thăm ông bà giáo sư Vinh, ở trong một căn nhà xa thành phố, đường vào nhà cây cỏ xanh mướt. Chị Vinh ngồi xe lăn đón tôi ở phòng khách, chị hỏi:
- Cô lên đây hồi nào?
Chị đưa tay chỉ ly nước và đĩa trái cây, mời tôi:
- Cô uống nước và dùng trái cây.
Giáo sư Vinh chào tôi và nói:
- Cô ở nhà với bà xã tôi, tôi đi họp với hội cựu tù nhân chính trị.
Ngồi nói chuyện với chị Vinh một chút, chị gầy hẳn đi, khác với ngày tôi gặp chị, khuôn mặt chị xanh xao, nhưng chị không than khi tôi hỏi về sức khỏe của chị. Có một cô em kề cận chăm sóc cho chị.
Tôi kể cho chị nghe về sinh viên Berkeley rất quan tâm đến chính trị, đề tài của tôi thuyết trình là: Làm thế nào để trở thành triệu phú? Sinh viên Berkeley đặt câu hỏi về chính trị nhiều hơn về kinh tế, trái với sinh viên của Cal State Fullerton và Long Beach, mà tôi đã từng thuyết trình nhiều năm qua. Tôi cũng nói với chị về tờ báo của trường đại học Berkeley rất lớn, nhiều tầng lầu, tờ báo rất xuất sắc. Chị Vinh hỏi tôi về những người chị quen ở Orange County có gặp họ thường không?
Tôi muốn kể cho chị nghe nhiều chuyện nữa nhưng sợ chị mệt, với lại đến giờ phải ra phi trường nên tôi xin giã từ. Ra đến cửa, tôi quay đầu lại vẫy tay chào chị, bàn tay yếu ớt của chị đưa lên chào tôi. Tôi hy vọng gặp lại chị lần nữa nhưng khi tôi vừa về đến Orange County vài tuần thì nghe tin chị được đưa vào nhà thương. Sau đó mấy tuần, chị mất.


Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh được Đức Giám Mục Mai Thanh Lương làm phép rửa tội ngày 19/10/2016 tại nhà thờ Saint Bonaventur, Huntington Beach, California. (Photo: Kingston Bùi)


Hôm nay, nghe tin giáo sư Nguyễn Xuân Vinh qua đời, gia đình, người thân, bạn bè, học trò của giáo sư trên thế giới, và đồng hương yêu quý ông đang cầu nguyện cho giáo sư sớm về hưởng nhan Thánh Chúa.

Orange County, 25/7/2022
(kieumyduyen1@yahoo.com)

Lễ truy điệu Giáo Sư Tiến Sĩ, Khoa Học Gia Không Gian Nguyễn Xuân Vinh (Thanh Phong Viễn Đông)

Lễ truy điệu Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh. Tiếng kèn của Hậu Duệ Phạm Công trong lễ truy điệu Giáo Sư - Khoa Học Gia Alfonse Nguyễn Xuân Vinh được tổ chức chiều thứ Năm tại Hội Trường Arboretum trong khuôn viên Nhà Thờ Chính Tòa Chúa Kito, Garden Grove. Lễ an táng cũng sẽ được tổ chức tại Nhà Thờ này sáng thứ Sáu. (Thanh Phong/ Viễn Đông)


Bài THANH PHONG

GARDEN GROVE - Vào lúc 2 giờ chiều thứ Năm, ngày 28 tháng 7, 2022 một buổi lễ truy điệu cố Giáo Sư Tiến Sĩ, Khoa Học Gia Không Gian, Alfonse Nguyễn Xuân Vinh đã được tổ chức trang nghiêm, long trọng tại Hội Trường Arboretum trong khuôn viên Nhà Thờ Chính Tòa Chúa Kito (Christ Cathedral), Garden Grove.

Buổi lễ do Hội Ái Hữu Không Quân Miền Trung California tổ chức, trong đó có sự tham dự của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH, Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Hội Giáo Chức VNCH và Hùng Sử Việt, Hội Cựu Học Sinh Bưởi - Chu Văn An, Hội Cựu Nữ Sinh Gia Long, Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh và Hội Nhân Văn Nghệ Thuật cùng rất đông đồng hương không phân biệt tôn giáo.

Buổi lễ có hai phần. Phần đầu là nghi thức truy điệu. Toán sĩ quan Không Quân mặc quân phục chỉnh tề tiến lên trước linh cữu cố giáo sư. Hai lá quốc kỳ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và hiệu kỳ Quân Chủng Không Quân được trịnh trọng đặt trên quan tài.

Không Quân Võ Ý tuyên đọc tiểu sử cố giáo sư TS Nguyễn Xuân Vinh như sau:

GSTS Nguyễn Xuân Vinh sinh ngày 3 tháng 1 năm 1930 tại Yên Bái. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Xuân Nhiên, thân mẫu là cụ bà Đỗ Thị Thảo. Sau một bà chị đã mất, Giáo Sư Vinh là trưởng nam trong một gia đình có rất đông anh em. GS Nguyễn Xuân Vinh có năng khiếu về Toán từ nhỏ. Ông nhập ngũ vào Quân Đội Quốc Gia theo học trường sĩ quan Nam Định sau trở thành phi công và làm việc tại Pháp và Morocco. Trong thời gian này ông ghi danh học Đại Học và đậu Cử Nhân Toán ở Đại Học Aix Marseille, Pháp.


Di ảnh GSTS Nguyễn Xuân Vinh nguyên Tư Lệnh Quân Chủng Không Quân. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Đầu năm 1955, ông được lệnh trở về nước phục vụ trong Bộ Tư Lệnh Không Quân với cấp bậc Trung Úy. Cuối năm 1955 ông thăng cấp Đại Úy. Tháng 10, 1956 ông được TT Ngô Đình Diệm thăng cấp Thiếu Tá làm Tham Mưu Phó tại Bộ Tư Lệnh Không Quân. Ngày 26.10.1957 ông được thăng cấp Trung Tá và giữ chức Tham Mưu Trưởng Không Quân. Vì hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc điều khiển hai máy bay khu trục ném bom Dinh Độc Lập, nên ông bị liên đới trách nhiệm. TT Diệm cử Trung Tá Huỳnh Hữu Hiền thay ông làm Tư lệnh Không Quân. Cùng năm ấy ông xin giải ngũ và du học Hoa Kỳ.

Năm 1965 ông là người đầu tiên được cấp bằng Tiến Sĩ về Khoa Học Không Gian tại Đại Học Colorado, sau khi ông thực hiện thành công công trình nghiên cứu tính toán quỹ đạo tối ưu cho phi thuyền do NASA tài trợ. Những lý thuyết của ông đã góp phần quan trọng trong việc đưa các phi thuyền lên mặt trăng thành công, đồng thời được ứng dụng vào việc thu hồi các phi thuyền con thoi trở về trái đất an toàn.

Ông cũng là Giảng Sư tại Đại Học Michigan, và lấy bằng Tiến Sĩ Quốc Gia Toán Học tại Đại Học Sorbonne, Paris, Pháp. Từ năm 1982, ông là Giảng Sư của ngành Toán Ứng Dụng tại Đại Học Quốc Gia Thanh Hoa ở Đài Loan. Là người Hoa Kỳ thứ ba và là người châu Á đầu tiên được bầu vào Viện Hàn Lâm Quốc Gia Hàng Không và Không Gian của Pháp.



Hội Ái Hữu Không Quân Miền Trung California chuẩn bị lễ truy điệu. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Năm 1986 được bầu làm Viện Sĩ chính thức của Viện Hàn Lâm Không Gian Quốc Tế. Ông đã được mời đi thuyết giảng tại các Đại Học ở Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Ý, Đức, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Đài Loan, Na Uy, Thụy Điển, Hungary, Do Thái, Nhật, Trung Hoa và Úc Đại Lợi. Ông đọat rất nhiều giải thưởng quốc tế.

Ông cũng yêu thích văn chương và đã đoạt Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc của VNCH vào năm 1959 với tác phẩm Đời Phi Công. Ông còn là tác giả các sách Theo Ánh Tinh Cầu, Vui Đời Toán Học, Thiên Chức Của Nhà Giáo.

Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh kết hôn với bà Cung Thị Toàn. Hai ông bà sinh được bốn người con. Năm 2008 bà Cung Thị Toàn qua đời tại San Jose. Sau đó ông xuống Nam California và kết hôn với bà Nguyễn Thị Nghinh Xuân, một nhà báo và một xướng ngôn viên truyền thanh và truyền hình từ Úc, bút hiệu Phiến Đan. Hai ông bà sống rất hạnh phúc suốt 13 năm cho đến ngày giã biệt nhau vào lúc 2 giờ 39 phút chiều thứ Bảy, ngày 23 tháng 7, 2022 tại Costa Mesa, California. Hưởng thọ 92 tuổi.

Sau phần tuyên đọc tiểu sử, các chiến hữu Không Quân hợp ca nhạc phẩm “Không Quân Hành Khúc” và tiếng kèn truy điệu của KQ Phạm Cung trổi lên để tưởng nhớ và tri ân người anh cả trong Quân Chủng Không Quân QL/VNCH, một khoa học gia đã làm rạng danh con cháu Lạc Hồng trên khắp thế giới.


Quốc kỳ Hoa Kỳ, quốc kỳ VNCH và hiệu kỳ Quân Chủng Không Quân được trịnh trọng đặt trên linh cữu cố GSTS Nguyễn Xuân Vinh. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Phần thứ hai là các lời phát biểu của đại diện các đơn vị tham dự. Mở đầu, Không Quân Lê Văn Sáu (Hội Trưởng Hội Không Quân Miền Trung California), kế đến là niên trưởng KQ Nguyễn Văn Ức đại diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại rồi đến chiến hữu Tần Nam, đại diện Liên Hội Cựu Chiến Sĩ. Sau đó đến đại diện của Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gia, của Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, của Hội Giáo Chức VNCH và CLB Hùng Sử Việt, của Hội Cựu Học Sinh Bưởi – Chu Văn An, của Hội Khuyến Học Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh và của Hội Nhân Văn Nghệ Thuật.

Ngoài ra, nhiều vị trước đây là bạn đồng khóa, là học trò hoặc bạn thân của GS Nguyễn Xuân Vinh muốn lên phát biểu nhưng thời gian không cho phép. Tất cả các lời phát biểu đều nói lên lòng ngưỡng mộ, thương tiếc một nhân tài nước Việt đã cống hiến nhiều tài năng cho xã hội, đã làm rạng danh cho dòng giống Việt Nam vừa ra đi để lại bao luyến nhớ cho gia đình và mọi người. Cuối các lời phát biểu, tất cả đều nguyện cầu cho linh hồn Alfonse Nguyễn Xuân Vinh được hưởng nhan thánh Chúa.

Sách tang lễ đăng câu hỏi của Linh Mục Nguyễn Văn Khải thuộc Dòng Chúa Cứu Thế: “Từ lúc nào ông quyết định xin trở thành con cái Chúa?” GS Nguyễn Xuân Vinh trả lời: “Từ sau khi đi hành hương châu Âu, đặc biệt sau khi viếng thăm Đền Thánh Alfonse. Lúc viếng mộ Ngài tự nhiên tôi cảm thấy rất gần gũi và rất xúc động. Cái cảm giác của tôi lúc đó không thể diễn tả được.” Sau khi biết quyết định của ông, phu nhân Phiến Đan liên lạc với ông bà bác sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ, ông bà bác sĩ Trần Văn Cảo và nhà văn Trần Phong Vũ và các bạn hữu khác để giúp ông học giáo lý và lãnh nhận bí tích Rửa Tội và bí tích Thêm Sức.” Ông chọn thánh hiệu là Alfonse (Al Phong Sô).


Bà quả phụ Phiến Đan tại lễ truy điệu chiều thứ Năm. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Ngay khi vào bệnh viện, LM Mai Khải Hoàn đã đến thăm hỏi và xức dầu cho ông. Khi bệnh viện trả về gia đình, nhà văn Quyên Di, ông bà bác sĩ Trần Văn Cảo đã đến bên giường hát thánh ca và cùng lần hạt Mân Côi cầu nguyện cho ông; nhiều bạn bè, học trò, chiến hữu đã liên tục đến thăm ông. Ngày 22 tháng 7, 2022 Đức Ông Phạm Quốc Tuấn đã đến ban các bí tích sau cùng cho ông và hôm sau, thứ Bảy 23 tháng 7 ông đã thanh thản giã biệt cõi đời này trong tình yêu của Chúa và của mọi người thân quen.

LM Nguyễn Văn Khải nói, “Thế là hoàn tất cuộc đời của một con người luôn cố gắng sống lương thiện, chuyên cần phụng sự tổ quốc và thế giới trong tư cách là một quân nhân, một nhà giáo và nhà khoa học.”

Bà Phiến Đan nói về GS Nguyễn Xuân Vinh, “Đặc điểm của ông là sự giản dị và trung thành, ngay cả với đức tin. Ông đến với Chúa bằng lòng phó thác và đầy niềm tin cho đến những ngày giờ cuối cùng, ông khẳng định với tôi: “Không có Chúa, anh sẽ không làm được gì.” Vì lẽ đó ông năng cầu nguyện hằng ngày và ông đã chứng minh khoa học cũng sẽ cúi đầu trước Thiên Chúa toàn năng. Cảm tạ hồng ân Thiên Chúa đã kết hợp chúng con nên một và con đã tìm thấy được một trái tim có Chúa và có cả quê hương.”

Thánh lễ an táng GS Nguyễn Xuân Vinh sẽ được cử hành vào lúc 9 giờ sáng thứ Sáu, ngày 29 tháng 7, tại nhà thờ chính tòa Chúa Kito, 13280 Chapman Ave, Garden Grove. Sau thánh lễ là di quan và hỏa táng tại Destiny Funeral Home & Crematory, 5443 Long Beach Blvd, Long Beach.